Kỷ niệm 75 năm ngày thành lập QĐNDVN

Tướng Đàm Quang Trung trong ký ức của tôi (phần I)

Cập nhật: 07:02 | 17/12/2019
Trong cuộc đời làm báo, tôi được “tháp tùng” khá nhiều vị tướng đi công tác. Một trong những vị tướng gây ấn tượng mạnh với tôi là thượng tướng Đàm Quang Trung cựu Bí thư đảng ủy, Tư lệnh Quân khu I, cựu Phó chủ tịch Hội đồng nhà nước.

Ông là người có ngoại hình rất “tướng”, cao lớn, đầu húi cua, da dẻ hồng hào, mắt sáng rực. Đặc biệt là tri thức, ông bảo khi đi làm cách mạng, ông mới chỉ học xong sơ học yếu lược (tương đương lớp 3). Song vào những năm 70, 80 của thế kỷ trước, tôi thấy ông uyên bác đến kinh ngạc. Cuối năm 1979, cánh làm báo chúng tôi vẫn đánh bài trên máy chữ Optima đã là sang lắm, lên phòng ông đã thấy một dàn máy vi tính dưới sự thao tác của một trung úy kỹ sư tin học ông kéo từ Sài Gòn ra.

Thượng tướng Đàm Quang Trung

Theo sử liệu, ông tên là Đàm Ngọc Lưu, dân tộc Tày, sinh ngày 12 tháng 9 năm 1921 tại bản Nà Nghiềng, xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Ông là con trai út trong gia đình có 7 anh chị em. Ông có hai người anh tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1932 đó là Đàm Văn Lý (bí danh Quý Quân, sinh năm 1915) người được đặt tên cho một xã ở Huyện Hà Quảng, Cao Bằng cũng chính là người tù chính trị vượt ngục Sơn La bị Pháp chặt đầu bêu ở cổng nhà tù để thị uy. Người anh thứ hai là Đàm Ngọc Lân (Đàm Minh Viễn, bí danh Đức Thanh, sinh năm 1918) năm 1946 ông là Phó tư lệnh bộ đội Nam tiến, ông đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Ông Đàm Quang Trung bắt đầu hoạt động cách mạng năm 1937 và gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 2 năm 1939. Tháng 5 năm 1940, ông bị chính quyền thực dân Pháp bắt giam rồi quản thúc tại địa phương.

Tháng 3 năm 1941, ông được các đồng chí tổ chức bí mật giải thoát khỏi sự quản thúc và vượt biên sang Tĩnh Tây (Trung Quốc) hoạt động. Tại đây, ông làm công tác phục vụ tại cơ quan lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương ở hải ngoại, sau đó ông được được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cử đi học Trường quân sự Hoàng Phố cùng các đồng chí Hoàng Văn Thái, Vũ Lập, Hoàng Minh Thảo, Nam Long... Nhiều người trong số họ trở thành những tướng lĩnh lừng danh của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Đích thân Bác Hồ đã căn dặn ông: “Chú Quang Trung phải học tập sử dụng thành thạo tất cả các loại vũ khí hiện có của cả đối phương nữa... sẽ đến lúc mình phải sử dụng tới”.

Tháng 7 năm 1944, Đàm Ngọc Lưu về nước với bí danh Đàm Quang Trung, ông được giao nhiệm vụ tổ chức huấn luyện và chỉ huy một đội du kích ở vùng biên giới Cao Bằng. Tháng 12 năm 1944, sau 2 trận Phai Khắt, Nà Ngần, ông đưa đơn vị du kích của mình sáp nhập vào Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân do ông Võ Nguyên Giáp thành lập ngày 22/12/1944 tại khu rừng Trần Hưng Đạo, Nguyên Bình. Sau hai trận Phai Khắt, Nà Ngần, ông được phân công làm Trung đội trưởng, ông kể với chúng tôi về trận thứ 3 đánh đồn Đồng Mu, huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng, đêm 4-2-1945, buổi tối, bộ đội mình tập kích thì buổi chiều bọn thổ phỉ đến dọa lính đồn và đòi lương thực, thế là cả đồn báo động và đã phòng bị sẵn.

Ông là người đi trước nói tiếng địa phương, giả vờ xin lửa tên lính gác vòng ngoài, khi tên lính đang loay hoay bật lửa đã bị ông đánh gục. Thấy động, địch bắn rát ta không thể đánh chiếm đồn, vì địch đã chiếm các vị trí có lợi. Trong trận này chiến sĩ Hoàng Văn Nhủng (tức Xuân Trường) người cùng quê Sóc Hà với ông đã hy sinh.

Đây là liệt sỹ đầu tiên của đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, tên của liệt sỹ đã được đặt cho một xã ở huyện Bảo Lạc. Trong trận này có một chuyện khá thú vị là sau mấy chục năm trở lại thăm quê hương gặp một người cháu họ xa, hỏi thăm mới biết người cháu cũng gần ngang tuổi chú chính là người lính bị ông đánh ngất ở đồn Đồng Mu khi ông giả vờ vào xin lửa.

Là người luôn quyết đoán, năng nổ sau đó Đàm Quang Trung được cử làm chỉ huy Đội vệ binh bảo vệ Trung ương Đảng và lãnh tụ Hồ Chí MinhTân Trào (Tuyên Quang). Ngày 29 tháng 7 năm 1945, quân đồng minh cử một toán nhân viên OSS trong đội “Con Nai” của Hoa kỳ, do Thiếu tá Allison Thomas chỉ huy, đã nhảy dù xuống xã Kim Lung, Sơn Dương, Tuyên Quang để liên lạc và phối hợp với Việt Minh đánh Nhật.

Đàm Quang Trung được chỉ định làm Đại đội trưởng đại đội hỗn hợp Việt - Mỹ, Thiếu tá Thomas làm Tham mưu trưởng, với nhiệm vụ xây dựng cơ sở và lựa chọn những chiến sĩ Việt Minh để huấn luyện cách sử dụng vũ khí Mỹ cho cuộc chiến tranh du kích chống Nhật. Ngày 18 tháng 8 năm 1945, ông chỉ huy một cánh quân Việt Nam Giải phóng quân, cùng với các cố vấn OSS (không có Thiếu tá Thomas), tiến về Thái Nguyên, tạo áp lực hỗ trợ Việt Minh giành chính quyền.

Sau khi giải phóng Thái Nguyên, đơn vị ông nhanh chóng phát triển thành cấp chi đội (tương đương cấp tiểu đoàn), ông làm Chi đội trưởng. Ngày 25 tháng 8 năm 1945, đơn vị ông tiến về Hà Nội và đóng quân tại trại Bảo an binh của Pháp trước đây. Ông được giao nhiệm vụ chỉ huy cuộc duyệt binh chào mừng Lễ Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại Ba Đình. Một nữ đội viên trong chi đội của ông là Đàm Thị Loan (sau này là phu nhân đại tướng Hoàng Văn Thái) vinh dự được kéo lá quốc kỳ trong buổi lễ này.

Ngôi trường PTCS mang tên Đàm Quang Trung ở Cao Bằng

Mặc dù giành được chính quyền, nhưng áp lực của những thế lực hiếu chiến nước Pháp vẫn luôn đe dọa nền độc lập non trẻ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Chỉ 20 ngày sau Lễ tuyên bố độc lập, quân đội Pháp, có sự hỗ trợ của quân Anh, đưa quân vào tái chiếm Nam Bộ, một cuộc chiến đấu không cân sức giữa những người Việt khát khao độc lập, tự do chỉ có súng ống lạc hậu và gậy tầm vông với một bên là đội quân viễn chinh được trang bị hiện đại. Để chi viện miền nam chiến đấu, hàng loạt các đơn vị tình nguyện Nam tiến được thành lập. Đàm Quang Trung được giao nhiệm vụ làm Chi đội trưởng Chi đội 4 Nam tiến. Lúc bấy giờ, đơn vị được gọi theo tên người chỉ huy, nên đơn vị của ông là Chi đội Đàm Quang Trung. Ông đã chỉ huy chiến đấu nhiều trận nổi tiếng. Trong trận đánh đồn Kông Pơ Long, ông đã cho bộ đội làm những xe lăn bằng rơm rạ, vô hiệu hoá đạn súng trường, tiểu liên của địch; mở đột phá khẩu mà không dùng bộc phá hay sử dụng cách đánh đặc công và đã tiêu diệt căn cứ Kông Pơ Long.

Các cường quốc thắng trận không hào hứng với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, Việt Minh buộc phải chọn giải pháp chấp thuận Hiệp định sơ bộ Pháp - Việt 6/3/1946 nhằm hòa hoãn và tranh thủ thời gian củng cố lực lượng để chuẩn bị kháng chiến. Ông được rút về giữ chức Khu trưởng đặc khu Hà Nội, kiêm Trung đoàn trưởng Tiếp phòng quân. Ngày 29 tháng 3 năm 1946, ông được giao nhiệm vụ chỉ huy cuộc diễu binh giữa Vệ quốc đoàn và Quân đội Pháp tại Vườn hoa Canh Nông để thể hiện thiện chí hòa bình của người Việt Nam.

Người Pháp luôn nuôi tham vọng khôi phục thuộc địa của mình. Nhận rõ điều này, tháng 10 năm 1946, Trung ương cử ông vào Đà Nẵng một địa bàn hiểm yếu giữ chức chỉ huy trưởng Ủy ban Quân sự Quảng Nam - Đà Nẵng, kiêm đoàn trưởng đoàn 31 rồi làm Tư lệnh Liên khu V. Thời gian này, ông luôn thể hiện là một chỉ huy có tài, trí, sáng tạo, trong xây dựng đơn vị và tổ chức đánh giặc. Ông đã góp công sức phát triển các trung đoàn 98, 108 thành các đơn vị mạnh. Địch gọi ông là “con hùm xám khu V”.

Cuối năm 1948, Liên khu 5 được thành lập trên cơ sở hợp nhất Khu 5, Khu 6Khu 15. Ông được cử làm Phó Liên khu trưởng, kiêm Trung đoàn trưởng Trung đoàn chủ lực của Liên khu. Tháng 10 năm 1950, ông được điều ra giữ chức Đại đoàn phó Đại đoàn 312 vừa mới thành lập. Từ năm 1953 đến năm 1954, ông cùng Đại đoàn tham gia đánh nhiều trận giải phóng Thượng Lào. Đặc biệt, đơn vị ông là đơn vị đã tiêu diệt cứ điểm Him Lam (Điện Biên Phủ) ngày 13 tháng 3 năm 1954 để mở màn và cũng là đơn vị bắt sống Bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm ngày 7 tháng 5 năm 1954 để kết thúc Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Ngày 1 tháng 1 năm 1955, lần thứ 3 ông được cử làm chỉ huy cuộc diễu binh, chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng về lại Thủ đô sau 9 năm kháng chiến. Tháng 3 năm 1955, ông được cử làm quyền Đại đoàn trưởng Đại đoàn 312 thay ông Lê Trọng Tấn sang giữ chức Giám đốc Học viện Lục quân. Tháng 6 năm 1955, đại đoàn 312 được biên chế lại thành sư đoàn 312. Ông được cử làm quyền Sư đoàn trưởng.

Tháng 6 năm 1957, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân khu Đông Bắc kiêm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 332 . Sau đó, ông sang Liên Xô theo học tại Học viện Quân sự Frunze ông là một trong những học viên xuất sắc nhất ở khóa này. Tháng 10 năm 1957, ông tham gia Chủ tịch đoàn cuộc mít-tinh chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh sang dự lễ kỷ niệm 40 năm Cách mạng tháng 10 Nga. Đầu năm 1958, về nước, ông được bổ nhiệm làm Phó Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn khi có chế độ quân hàm ông được phong Đại tá. Tháng 3 năm 1961, ông được điều động về làm Tư lệnh Quân khu Việt Bắc.

Tháng 8 năm 1966, ông được điều ra tiền phương, giữ chức Tư lệnh Bộ Tư lệnh tiền phương Bộ Quốc phòng tại Mặt trận B5 (Quảng Trị), kiêm Phó Tư lệnh Quân khu 4, Bí thư Quân khu ủy Quân khu 4. Năm 1967, sau đó ông được cử làm Chính ủy kiêm Bí thư quân khu ủy Quân khu 4. Trong Sự kiện Tết Mậu Thân 1968, ông là chỉ huy lực lượng tập kích Thành cổ Quảng Trị. Trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, ông giữ chức vụ Tư lệnh pháo binh Mặt trận. Năm 1973, ông được cử thay tướng Vương Thừa Vũ làm Tư lệnh Quân khu 4. Tháng 4 năm 1974, ông được thăng quân hàm Thiếu tướng.

Thiện Giang

  • Xin chờ trong giây lát...