Từ Genève nghĩ về cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao năm ấy và bây giờ

Cập nhật: 14:52 | 09/05/2020
Ngắm nhìn chiếc ghế bốn chân với một chân bị cháy xém, tôi rưng rưng nhớ về Việt Nam chống xâm lược gian khổ mà anh hùng...    

Lớp lớp cha anh đã trải qua thời chống ngoại xâm oanh liệt của thế kỷ 20 ấy, trong đó có bố mẹ tôi. Hôm nay tôi đứng đây, giữa đất nước Thụy Sĩ thanh bình, trong lòng bỗng tràn đầy biết ơn bè bạn năm châu đã đồng hành với Việt Nam suốt bao cuộc chiến tranh bảo vệ tự do và độc lập ấy. Và nhất là những ngày gần đây, tinh thần đoàn kết quốc tế lại một lần nữa dậy sóng trong cuộc chiến đấu chống giặc Covid-19 trên khắp mọi quốc gia.

tu geneve nghi ve cuoc dau tranh tren mat tran ngoai giao nam ay va bay gio
 

Hình ảnh chiếc ghế một chân bị cháy xém Genève nhắc nhở ta nhận rõ một thế giới luôn bất ổn?

Những hồi chuông vang lên thánh thót từ nhà thờ lớn nằm trên sườn đồi thoai thoải với những khu phố cổ sầm uất, thanh bình của thành phố có cả những khoảng đồi cao lẫn vùng hồ nước mênh mông phẳng lặng, tạo nên một khung cảnh thanh bình, trong trẻo mà vẫn có những nét chấm phá rất riêng, đó là Genève, Thuỵ Sĩ. Những người dân lịch lãm rảo bước, những cửa hàng được trang trí sinh động và cách điệu trong khu phố cổ với nhiều mặt hàng phong phú, trong đó không thể thiếu các sản phẩm đặc trưng của Thuỵ Sĩ như đồng hồ, dao đa chức năng,... tượng trưng cho tinh hoa trí tuệ con người nơi đây. Bách bộ xuống khu phố thấp hơn, chúng tôi qua chiếc cầu bắc ngang hồ Léman để ngắm cột nước trắng xoá và những đàn Thiên Nga, những chú vịt lớn bơi lội yên bình trên mặt nước. Tiếp tục đi trên các tuyến phố tới công viên có chiếc đồng hồ hoa lớn, chúng tôi bắt gặp đoàn người – các hộ lý trong những bệnh viện đi dọc các tuyến phố biểu tình. Họ hát vang ca khúc - là khẩu hiệu cùng nhau đoàn kết : “Tous enssemble à Tous enssemle...”( Tất cả đồng lòng, tất cả đồng lòng !). Giai điệu của ca khúc âm vang khắp các tuyến phố. Vậy là thành phố tưởng như rất yên bình vẫn có những gợn sóng của một thế giới bất ổn…

Đúng là ở giai đoạn lịch sử nào cũng vậy, muốn giữ gìn nền hoà bình đều phải có những nỗ lực lớn của cả cộng đồng. Tôi đứng giữa quảng trường Nation, suy tư ngắm nhìn chiếc ghế gỗ cao 12 m có 4 chân mà một chân bị cháy xém. Chiếc ghế này do nghệ sĩ Daniel  Berset  người Thuỵ Sĩ sáng chế và Louis Gene là người thực hiện, được đặt tại quảng trường từ năm 1999. Đây là biểu tượng chống lại bom mìn gây sát thương cho trẻ em ở những nước còn tàn dư chiến tranh. Chị Thảo, một người đồng hành cùng tôi chia sẻ: “Chúng ta đang sống trong thế giới thanh bình nhưng ở đâu đó vẫn còn chiến tranh, còn những điều đau khổ, và chúng ta cần phải đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau. Nhìn hình ảnh chiếc ghế không vững chãi như vậy, tôi liên tưởng tới trái đất của chúng ta rất mong manh dễ vỡ, và mỗi người chúng ta cần đoàn kết để có một cuộc sống tốt đẹp hơn”.      

Tôi nhớ về câu chuyện cha tôi đem những nạn nhân chiến tranh ở Việt Nam tới tòa án quốc tế ở Stockhom để tố cáo tội ác đế quốc Mỹ.

Cũng như chị Thảo, từ hình ảnh chiếc ghế bị cháy xém 1 chân ấy, tôi nhớ về thế hệ cha mình đã can trường đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc trên mặt trận ngoại giao. Ngày ấy cha tôi - ông Nguyễn Mạnh Cương là một thành viên của Ủy ban điều tra tội ác đế quốc Mỹ của quân đội do Đại tá Hà Văn Lâu phụ trách và được biệt phái sang Bộ Ngoại giao. Ông đã lặn lội vào tuyến lửa Quảng Bình và nhiều vùng đất đang bị bom Mỹ dội xuống để đưa những nạn nhân chiến tranh tiêu biểu trong ngàn vạn nạn nhân chiến tranh tại Việt Nam tới Hội nghị quốc tế Stockholm Thuỵ Điển năm 1967. Phải đi đi lại lại rất nhiều lần vào các vùng tuyến lửa ấy, ông vượt qua biết bao hiểm nguy mới có thể đưa được các nạn nhân về Thủ đô Hà Nội. Không biết gửi các nạn nhân ăn ở tại đâu, cha tôi đã đưa tất cả các nạn nhân ấy về căn hộ tập thể chật chội 9 mét vuông của gia đình mình ở 151 đường Nam Bộ (nay là đường Lê Duẩn) Hà Nội, chờ ngày lên đường tới Hội nghị quốc tế. Năm đó, mẹ tôi - bà Tạ Quế Anh, 35 tuổi (kém cha tôi 5 tuổi) đang làm việc tại Cục vật tư của Bộ y tế, một nách ba con nhỏ vẫn thường xuyên phải túc trực ở Ga Hàng Cỏ để nhận hàng viện trợ (là những thiết bị y tế và thuốc men) của nhiều nước trên thế giới cho nước ta. Nhiều chuyến đi của chồng vào tuyến lửa bà cũng không được chia tay, khi chồng về hai người cũng không kịp gặp gỡ. Song đến khi ông đưa các nạn nhân chiến tranh về nhà - căn hộ không chỉ là tổ ấm chật chội của gia đình mình mà còn là nơi tạm trú của nhiều anh chị em, họ hàng trong những năm tháng khó khăn ấy, nay lại đương nhiên cõng thêm các nạn nhân chiến tranh do đế quốc Mỹ xâm lược gây ra. Bà thấy các nạn nhân người thì mất chân, mất tay, người thì hỏng mắt, mất tai… lòng bà se sắt, xót xa. Bà giúp chồng nấu nướng, chăm sóc chu đáo các nạn nhân. Những năm tháng ấy, những bà vợ kề vai sát cánh cùng chồng - người vô sản là chuyện bình thường.

Cuối cùng, cha tôi cũng chọn lựa được những nạn nhân điển hình để đưa tới hội nghị. Đó là 4 nhân chứng chiến tranh: cháu bé Đỗ Văn Ngọc khôi ngô tuấn tú năm đó mới 9 tuổi quê Quảng Bình, bị bom lân tinh cháy xém ngực, bụng, mất cả bộ phận sinh dục. Người thứ hai là cháu Thái Bình Dân, 16 tuổi ở Long An bị bom napan cháy sần sùi cả chân và tay, thân người cũng bị biến dạng. Người thứ ba là anh Hoàng Tấn Hưng 35 tuổi, quê ở Quảng Ngãi, nạn nhân bom lân tinh cháy xém chân tay, dính cả vào sườn, dị dạng, mất khả năng sinh hoạt. Nhân vật thứ tư gây xúc động khá nhiều ở phiên tòa là cô Ngô Thị Nga 19 tuổi, giáo viên cấp 1 ở Cẩm Phả, xinh xắn thông minh, nhưng bị một viên bi của bom bi nằm trong đầu. Trong đoàn đi còn có một nhân vật quan trọng là bác sĩ Nguyễn Cao Thâm của Bộ y tế. Ông đã khá vất vả để chăm sóc các nạn nhân - nhân chứng đặc thù này.

Đến Stockhom, đoàn 6 người đã ở nhờ nhà dân – gia đình chị Ann Bilinne và chồng là bác sĩ Gunnar Bilinne, Chủ tịch Hội sinh viên toàn quốc Thụy Điển… Dường như với năng khiếu ngoại giao bẩm sinh, ông chỉ cần dặn dò các nạn nhân hãy cứ trả lời sự thật khi được các nhà báo nước ngoài phỏng vấn mà không phải tập huấn trước cách trả lời. Bản thân mỗi nhân chứng mà ông lựa chọn đã là một số phận bi tráng, là những thước phim tư liệu về người Việt Nam kiên cường trong chiến tranh. Hôm đến Tòa án, sau khi Đại tá Hà Văn Lâu, Phó đoàn của Nhà nước thay mặt đồng chí Phạm Văn Mạch lên báo cáo về tình hình tội ác của Mỹ ở Việt Nam trên hồ sơ và các tài liệu  tại hội trường thì các luật sư và các nhà báo cũng đã rất chú trọng nội dung này, nhưng đến khi đoàn nhân chứng xuất hiện đã tăng yếu tố thuyết phục thêm mấy bậc. Sau bài báo cáo của Đại tá Hà Văn Lâu, Tòa cho phép và gọi các nhân chứng lên hội trường. Vậy là 4 nhân chứng được đưa lên, riêng cháu Ngọc vì yếu nên người phụ trách phải bế lên và xin phép Tòa cởi hết quần áo để Tòa nghiên cứu kỹ. Cả tòa án rưng rưng, nhiều người khóc nức nở. Cháu bé hai mắt to thông minh mà thân thể bị tàn phá, đã bình thản trả lời gần 20 câu hỏi của Tòa rất thông minh trôi chảy không hề bịa đặt gì cả. Người ta đã xác nhận là đúng và thương cảm vô cùng cháu bé này. Tiếp theo hai nạn nhân Dân và Hưng thì mức độ rung động đủ thấy rõ tội ác và loại hình tàn ác của bom napan, nhất là chất lân tinh ăn sâu vào trong xương tủy, các mô và tế bào. Đến khi cô giáo Ngô Thị Nga bước lên, trả lời 23 câu hỏi của Tòa rất là dõng dạc, rõ ràng với giọng thu hút và với gương mặt trong sáng, xinh đẹp, trẻ trung, trang phục giản dị, đàng hoàng, thực sự đã gây ấn tượng với những người có mặt trong phiên tòa. Sau khi trả lời câu hỏi về lý lịch, tuổi, nghề nghiệp, hoàn cảnh, vị trí ngôi trường bị bom, cô kể khi cô đang dạy học, vào giờ ấy, ngày ấy, ở trường ấy, ngôi trường không dình tí gì đến quân sự, không gần bất cứ cơ sở nào của quân sự mà chỉ là một làng quê hẻo lánh, thì bị bom dội. Cô nói đến viên bi trong đầu thì người ta quay luôn phim thấy ngay viên bi nằm trong vùng chẩm cách 6 phân ẩn, và nạn nhân đứng lên mắt mờ đi. Bệnh án của cô cũng được phóng to chiếu trên hội trường. Nhiều người khóc quá! Người ta cảm kích trước vẻ trong sáng, thông minh của cô giáo trẻ mà đang phải đối mặt với cuộc sống quá mong manh. Mỗi câu trả lời của cô vừa giản dị, vừa chứa đựng sức mạnh của từng cá nhân và dân tộc trước công lý. Cha tôi kể lại, khi ngoảnh lại  thấy bà Sara Dipman ngồi gần đấy, mắt bà rơi lệ. Gần như cả hội trường đã khóc như mưa vì đau xót trước những tội ác mà đế quốc Mỹ đã dội lên người dân lương thiện Việt Nam. Khi trở về nhà bà Ann, bác sĩ Gunard đã kéo rất nhiều sinh viên đến liên hoan ăn mừng với đoàn nhân chứng. Bác sĩ Gunard nói: “Chúc mừng thành công của các bạn! Cực kỳ hay…”. Trong khi Tòa án còn tiếp tục, năm cánh quân sinh viên và những người phản đối chiến tranh ở Việt Nam đã từ ngoại ô kéo vào khu trung tâm thành phố Stockhom biểu tình với những khẩu hiệu: “Đế quốc Mỹ rút khỏi miền nam Việt Nam”, “Chấm dứt ném bom miền bắc Việt Nam”, “Chấm dứt chiến tranh tội ác ở miền nam Việt Nam”. Tiếp đó các cuộc biểu tình đã nổ ra, lan rộng ở nhiều nước trên thế giới lên án cuộc chiến tranh bạo tàn của chủ nghĩa đế quốc tại Việt Nam…

Khi đoàn nạn nhân chiến tranh trở về Việt Nam, căn hộ chật hẹp của cha mẹ tôi tiếp tục là nơi tạm lưu trú trước khi những nhân chứng ấy cũng chia tay nhau trở về quê của mình. Có lẽ bởi những ấn tượng và kỷ niệm khó quên sau chuyến đi và những ngày đầm ấm sống cùng gia đình tôi mà cô giáo Nga đã viết cho cha tôi một bức thư cảm động từ Quảng Ninh năm 1967 sau khi trở về nhà an toàn, xin trích đoạn như sau: “Anh kính mến! Ngồi trên ô tô em bắt tay cháu Ngọc để tạm biệt, ôi sao mà thương nó quá. Thế là em xa nó. Tiếp đó em lại được đọc giấy anh viết  lại trong túi kẹo, em buồn vô cùng. Anh em hy vọng còn được gặp nhiều. Cháu Ngọc biết đến khi nào được gặp lại cháu? Hôm các anh ở trên tàu anh nói chuyện sắp xa nhau, em thấy bình thường thôi, nhưng đến lúc phải xa nhau thật sự, em luyến tiếc vô cùng. …Tạm biệt người anh kính mến. Cho em gửi lời chào chị Quế. Em chúc anh chị vui khỏe mãi. Em Ngô Thị Nga”. Thế đấy! người có số phận kém may mắn lại thương người có số phận không may hơn. Người Việt Nam là vậy, tình thương kết nối tình thương để làm nên khối đại đoàn kết dân tộc.

Sau này cha tôi được chuyển hẳn về Bộ Ngoại giao đảm trách nhiều cương vị quan trọng như: tháp tùng đồng chí Lê Đức Thọ đi đàm phán ký kết Hiệp định Paris năm 1972, nhiều năm làm công tác Đảng, đi Đại sứ ở các nước Đông Âu… Ông về hưu năm 1990 giữ chức Quyền Vụ trưởng.

Lời nhắn nhủ của cha tôi về bảo vệ thành quả hòa bình.

Cha tôi đã đi xa vào mùa hạ năm 2002, hưởng thọ 75 tuổi, hơn 50 năm tuổi Đảng. Nằm trong bệnh viện hữu nghị Việt-Xô vào những ngày cả nước chuẩn bị “Toàn dân đi bầu cử”, phút lâm chung cha tôi vẫn nhắc vợ và các con nhớ đi bầu cử từ sớm. Trước khi ra đi ông nhắn nhủ tôi nhiều điều (chắc bởi tôi là con dâu cả). Ông cũng giao lại cho tôi một số kỷ vật, trong đó có bức ảnh chụp đoàn nhân chứng chiến tranh tại Stockholm và bức thư của cô giáo Nga. Cả cuộc đời ông đã hoàn thành xuất sắc vai trò lịch sử, góp phần làm nên thắng lợi của những cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao. Ông cũng làm tròn bổn phận người ông, người cha trong gia đình, giáo dục các con cháu phải biết trân trọng thành quả hòa bình. Giờ đây, khi được đứng giữa Genève, một thành phố quốc tế hoá, một thành phố toàn cầu hoá với rất nhiều trụ sở của Liên hiệp quốc mà hàng năm ở đây diễn ra hàng nghìn hội nghị, tôi rưng rưng nhớ về cuộc chiến tranh gian khổ mà bao thế hệ cha anh đã trải qua, lòng đầy biết ơn bè bạn năm châu đã đồng hành với Việt Nam cùng vượt qua những thăng trầm của lịch sử. Và những ngày gần đây, tinh thần đoàn kết quốc tế lại một lần nữa dậy sóng trong cuộc chiến đấu chống giặc Covid-19. Tôi tin rằng, không một kẻ thù nào có thể hạ gục ý chí kiên cường của nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam cũng như loài người tiến bộ trên trường quốc tế. “Tous enssemble à Tous enssemle...”(Tất cả đồng lòng, tất cả đồng lòng!)- Chúng ta có thể hát tiếp bài ca này để cùng đoàn kết, đồng lòng bảo vệ thế  giới hòa bình, mơ ước vĩnh cửu của con người ./.

Thanh Thủy

  • Xin chờ trong giây lát...