Kỷ niệm 130 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2020)

Sự bình dị anh minh của một con người vĩ đại

Cập nhật: 06:08 | 14/05/2020
Ông đã chinh phục tôi chủ yếu ở sự bình dị và dễ gần hoàn toàn tự nhiên. Và điều đó có được là do xuất phát từ sự tôn kính vô bờ không chỉ của những người cộng sự gần gũi ông, mà cả quảng đại đồng bào của ông. Đó là sự tôn kính, không phải là sự “tôn sùng cá nhân” theo quan niệm thời đó và hiện nay của chúng tôi, mà là sự sùng kính của tình yêu và sự khâm phục đối với con người, mà cả cuộc đời ông là minh chứng cho lòng trung thành vô hạn với sự nghiệp tự do và hạnh phúc của nhân dân mình và sự nghiệp đó đã được ông dẫn dắt đến  thắng lợi.
su binh di anh minh cua mot con nguoi vi dai
Bác Hồ với các cháu Thiếu nhi

Câu chuyện xảy ra khi cuộc đời tôi biết nhận thức bắt đầu từ những năm 50 thế kỷ trước, khi đó những khái niệm quốc tế, quyền tự do độc lập của mỗi dân tộc đối với thế hệ chúng tôi rất đỗi thiêng liêng. Đặc biệt hơn nữa chúng tôi được lớn lên trong những năm Chiến tranh Giữ nước vĩ đại và ngay những năm tiếp sau đó. Từ khi còn là trẻ con chúng tôi đã biết ở Đông Dương xa xôi có cuộc “chiến tranh bẩn thỉu” của thực dân Pháp, bị những con người ưu tú của hành tinh chúng ta phản đối. Hình tượng những người anh hùng đối với chúng tôi là cô gái người Pháp Raymond Điêng đã nằm trên đường ray cản đoàn tàu chở vũ khí chuyển tới Việt Nam, cũng như anh thuỷ thủ Hanri Martanh, từ chối chiến đấu chống lại nhân dân Việt Nam, vì vậy mà anh bị Tòa án quân sự kết án nhiều năm tù. Sau này chúng tôi được xem phim thời sự của nhà đạo diễn chiến trường lừng danh của chúng ta Roman Karmen, đã kể cho toàn thế giới về cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, về chiến thắng Điện Biên phủ, và về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Lần đầu tiên tôi đến Việt Nam là vào mùa hè năm 1960. Đó là dịp đi thực tập tại Đại sứ quán Liên Xô dành cho sinh viên năm cuối học tại Trường Đại học Quan hệ Quốc tế quốc gia Matxcơva, ở đó tôi là một trong những sinh viên Xô viết đầu tiên học tiếng Việt và nghiên cứu về Việt Nam.

Đối với những người Xô viết đầu tiên nói tiếng Việt, ở đâu cũng được quan tâm đặc biệt nồng nhiệt, mặc dù, theo truyền thống thì nghề “thông ngôn” không được tôn trọng ở Việt Nam. Đó là do 900 năm Bắc thuộc và thuộc địa cách đây không lâu. Giữ gìn tiếng mẹ đẻ và văn hoá trong nhiều thế kỷ đó là một trong những hình thức đấu tranh vì sự tồn vong của dân tộc. Còn người thông ngôn luôn được coi là kẻ thuộc hạ của những kẻ cai trị người nước ngoài. Nếu thông ngôn là người Pháp thì có nghĩa là người đó không thành công trong cuộc sống, không còn sự chọn nào khác là phải học tiếng của một nước khác xa xôi lạ lẫm như Việt Nam. Còn chúng tôi thì tin tưởng rằng nói bằng tiếng Việt với người Việt Nam là thể hiện sự kính trọng dân tộc đó, hơn thế nữa chúng tôi đến Việt Nam không phải là kẻ xâm lược mà là đồng minh bạn hữu.

su binh di anh minh cua mot con nguoi vi dai
Grigori Loksin, Tiến sĩ sử học, chuyên gia về các vấn đề quốc tế và chính sách đối ngoại của Việt Nam.

Những ký ức sâu sắc nhất của những năm đó, tất nhiên là những lần đầu tiên gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tôi gặp ông lần đầu là trên khán đài dành cho khách ở Quảng trường Ba Đình trong cuộc mít tinh và diễu hành ngày mồng 2 tháng Chín năm 1960, kỷ niệm 15 năm khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Với tư cách là phiên dịch, tôi đi cùng với Đại sứ L.I. Xokolov, và dĩ nhiên tôi rất hồi hộp. Bởi vì đó là lần đầu tiên tôi gặp lãnh đạo cao nhất của Việt Nam. Chào hỏi khách khứa xong, Chủ tịch vui vẻ vỗ vai tôi và nói vài câu khích lệ, mà tôi chắc do hoảng sợ nên hiểu không hết. Mới chỉ một năm về trước thôi, tôi còn không hình dung rằng tôi sẽ được nắm tay một con người mà tôi đã đọc nhiều về ông và vô cùng kính trọng ông.

Ông đã chinh phục tôi chủ yếu ở sự bình dị và dễ gần hoàn toàn tự nhiên (không chút mảy may cố tình). Và điều đó có được là do xuất phát từ sự tôn kính vô bờ không chỉ của những người cộng sự gần gũi ông, mà cả quảng đại đồng bào của ông. Đó là sự tôn kính, không phải là sự “tôn sùng cá nhân” theo quan niệm thời đó và hiện nay của chúng tôi, mà là sự sùng kính của tình yêu và sự khâm phục đối với con người, mà cả cuộc đời ông là minh chứng cho lòng trung thành vô hạn với sự nghiệp tự do và hạnh phúc của nhân dân mình và sự nghiệp đó đã được ông dẫn dắt đến thắng lợi.

Phát biểu từ lễ đài Chính phủ, như thường lệ Chủ tịch nói những câu bình dị xuất phát từ trái tim khi hướng về đồng bào mình như một người cha hoặc người trưởng dòng tộc. Và toàn bộ quảng trường, không dưới mười vạn người đã khóc thành tiếng, mọi người lúc đó chỉ cần ngước nhìn lãnh tụ của mình, thấy ông vẫn hoạt bát nhanh nhẹn và khoẻ mạnh, thậm chí họ còn không nghe ông nói và không ngượng ngùng thổ lộ tình cảm của mình. Vâng, chính bản thân “hình tượng” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tác động tuyệt vời đến đông đảo quần chúng, và ấn tượng đó tôi giữ mãi đến nhiều năm về sau.

Sau này tôi nhiều lần được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách là phiên dịch trong những lần gặp gỡ của nhiều đoàn đại biểu từ Liên Xô. Chủ tịch biết tiếng Nga nhưng lại cố gắng không tỏ ra điều đó, mà với sự cảm thông với công việc của chúng tôi, Chủ tịch chú ý nhận biết một vài sai sót của chúng tôi, bày vẽ cho chúng tôi cách phát âm đúng một số từ và cách diễn đạt.

Từ những ký ức vui vẻ về những lần gặp gỡ với con người lạ thường đó, tôi lại nhớ đến một chuyện trong buổi “trà đàm” ở ngôi nhà gỗ trong khuôn viên Phủ Chủ tịch, nơi thực tế ông sống ở đó. Đôi khi Đại sứ của chúng tôi được mời đến đó trong những buổi tiếp hoàn toàn thân mật và không chính thức, tôi lại được tháp tùng ông. Sau phần trao đổi công việc thường có những câu chuyện đùa vui. Mà đó là việc khó khăn nhất của phiên dịch, nói cách khác là “chạm phải cửa tử”. Bởi vì mỗi một dân tộc có cách thể hiện riêng, có cái cũng thật là buồn cười, có cái pha chút đùa vui! Có một lần, ngài Đại sứ chúng tôi kể một trong những tiếu lâm phổ biến ở Liên Xô thời đó về “Radio Armenhia”.

Những giai thoại đó thường bắt đầu từ câu hỏi của thính giả, như kiểu hỏi nhà đài Armenhia về mọi chuyện trên đời và các câu trả lời phải bất ngờ thông minh hóm hỉnh, chủ yếu là phải buồn cười. Thế là Đại sứ chúng tôi kể về câu chuyện, ví như thính giả hỏi có thể giết chết mẹ vợ bằng một cân bông không? Câu trả lời là có thể ... nếu bọc được cái bàn là vào trong bông. Về mặt ngôn ngữ thì dịch không có gì là khó, và tôi đánh bạo dịch trọn vẹn. Nhưng không một ai trong số lãnh đạo Việt Nam có mặt và cả Chủ tịch đều không cười. Đại sứ không vui, không bằng lòng nhìn tôi. Cứ như là tôi đã phụ lòng tin của Đại sứ dịch không nên hồn trước những con người như thế này.

Nhưng chính Chủ tịch đã cứu giúp tôi. “Đừng giận phiên dịch - ông nói với Đại sứ đang còn nhăn nhó. - Trong tiếu lâm vừa kể chỉ không hiểu có một điều: vì sao, lý do gì mà lại giết mẹ vợ”. Và chính Chủ tịch đã giải thích quan hệ giữa con rể và mẹ vợ trong gia đình Việt Nam khác hẳn. Mẹ vợ rất quý con rể, thế nên trong đầu chàng rể không có ý nghĩ phải thoát khỏi mẹ vợ. Giai thoại như thế nó mộc mạc hiền lành quá nên vẫn còn nhớ mãi suốt đời trong tâm trí tôi.

Không phải ngẫu nhiên mà người ta nói mọi cái thiên tài đều rất giản đơn. Chủ tịch Hồ Chí Minh - người đã đi vào lịch sử như một trong những nhà chính trị kiệt xuất của thế kỷ 20, những gì ông nói đều rất giản đơn và dễ hiểu. Liên tưởng đến điều đó, tôi không thể không nhớ đến lần gặp ông vào tháng Bảy năm 1964. Lúc ấy ở Hà Nội có Hội nghị quốc tế, kỷ niệm 10 năm ký kết hiệp định Giơnevơ về Đông Dương. Tôi được tham dự vào công việc của Hội nghị. Tình hình lúc đó vô cùng căng thẳng, chiến tranh xâm lược của Mỹ sắp nổ ra chỉ còn tính từng ngày. Chủ tịch gặp gỡ tất cả mọi đại biểu nước ngoài tham dự Hội nghị, trong đó có thượng nghị sỹ Xanvador Alienđe của Chile, Chủ tịch Uỷ ban Hòa bình Thế giới toàn Trung quốc Quách Mạt Nhược và những nhà hoạt động xã hội chính trị nổi tiếng khác thời kỳ đó. Tôi nhớ suốt đời lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời câu hỏi, trong điều kiện khó khăn hiện nay đường lối đối ngoại của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà như thế nào. Đường lối đối ngoại đó, ông nói, có thể tóm gọn trong công thức “thêm bạn, bớt thù”.

Sau này tôi thường nhớ lại những lời đó trong tâm trí mình như là tiêu chí đánh giá sáng suốt nhất mà cũng là đơn giản nhất về chính sách đối ngoại của bất kỳ chính phủ nào, bất kỳ đất nước nào thực sự bảo vệ quyền lợi sống còn của dân tộc mình không chỉ bằng lời nói mà bằng việc làm. Và cũng với tiêu chí đánh giá đó khi phân tích đường lối đối ngoại hiện nay của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong hai chục năm thực hiện chính sách “đổi mới”, mọi người đều tin chắc rằng, những lời di huấn sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được thực hiện hiệu quả như thế nào vào cuộc sống.

Grigori Loksin

Hoàng Minh dịch

* Grigori Loksin, Tiến sĩ sử học, chuyên gia về các vấn đề quốc tế và chính sách đối ngoại của Việt Nam.

Năm 1963-1967 làm việc tại Viện nghiên cứu phương Đông của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô.

Năm 1964 - 1973 là thư ký điều hành của Ủy ban hỗ trợ Việt Nam Liên Xô.Trong những năm 1973-1993 là thư ký và thư ký điều hành của Ủy ban Hòa bình Liên Xô.

Từ năm 1994, ông là Thư ký của Ủy ban Điều hành Hiệp hội Quỹ Hòa bình Quốc tế và Tổng thư ký của Viện Hòa bình Quốc tế tại Vienna.

  • Xin chờ trong giây lát...