Nhìn lại chính sách đối ngoại trong quan hệ Mỹ - Trung (phần II)

Cập nhật: 06:58 | 27/08/2019
Đây thực chất thực chất của chiến lược này là chính sách ngoại giao “đối ngoại 4 không” đó là: không thuyết phục, không dựa dẫm bên ngoài, không liên minh với nước lớn, không xây dựng quan hệ chiến lược với các nước khác[1].  
[1] Lê Văn Mỹ (cb). Ngoại giao Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 30 năm cải cách mở cửa. Hà Nội: Nxb. KHXH, 2009, tr.18.
Đặng Tiểu Bình trong chuyến đi Mỹ tìm đồng minh

Tóm lại, trong giai đoạn này, quan hệ Trung - Mỹ bước sang một trang mới. Chặng đường từ đối đầu đi tới bình thường hóa hết sức khó khăn và kéo dài, nhưng vì lợi ích quốc gia cuối cùng đã thúc đẩy hai nước khắc phục bất đồng, thực hiện hòa giải mang tính lịch sử. Quan hệ Trung - Mỹ có những tiến triển rõ rệt cả về chiều rộng và chiều sâu.

Ba là, giai đoạn từ năm 1989 đến 2000: Quan hệ hai nước diễn biến thăng trầm, phức tạp. Điều này không chỉ được thể hiện qua các cuộc tiếp xúc, đối thoại, thương lượng, hợp tác của hai nước về những vấn đề khu vực và quốc tế như kinh tế thương mại, chống phổ biến vũ khí, chống khủng bố… mà còn thể hiện ở những bất đồng, mâu thuẫn thậm chí đối kháng về vấn đề quốc tế và khu vực như: chế độ chính trị, ý thức hệ, vấn đề nhân quyền, Đài Loan, Hồng Kông, Tây Tạng…

Sau sự kiện Thiên An Môn tháng 6/1989, Mỹ thực hiện cấm vận Trung Quốc. Trong suốt 3 năm (1989-1992) hai nước không có cuộc gặp cấp cao nào. Vào đầu thập niên 1990, quan hệ Trung - Mỹ dần dần lạnh đi vì nhiều lý do: Từ vấn đề sở hữu trí tuệ, vấn đề Mỹ thâm hụt trong quan hệ buôn bán với Trung Quốc cho đến nhân quyền, vấn đề Đài Loan, mà đỉnh cao là việc Trung Quốc cho thử tên lửa và tập trận ở eo biển Đài Loan.

Đến năm 1993, quan hệ Trung - Mỹ mới bình thường trở lại khi Bill Clinton trở thành Tổng thống. Mỹ đã điều chỉnh chính sách đối với Trung Quốc từ “bao vây” sang “can dự có tính bao vây” rồi đến “can dự toàn diện” hay “dính líu tích cực”. Cuối năm 1999 và những năm đầu của thế kỷ XXI, cùng với sự kiện máy bay NATO ném bom và Đại sứ quán Trung Quốc tại Nam Tư và những động thái của Mỹ công kích Trung Quốc về nhân quyền, tự do tôn giáo, Tây Tạng, các vụ đụng độ ở Biển Đông... càng làm cho quan hệ hai nước căng thẳng. Đặc điểm nổi bật trong chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Trung Quốc trong thời gian này là tăng cường kiềm chế và bao vây Trung Quốc.

Bốn là, giai đoạn từ năm 2001 đến nay: Chính quyền Bush (con) lên nắm quyền thì chiến lược ngoại giao với Trung Quốc từ “đối tác hợp tác chiến lược” sang “đối thủ cạnh tranh chiến lược” và có chính sách cứng rắn với Trung Quốc.

Ảnh minh họa

Tuy nhiên, sau sự kiện khủng bố 11.9.2001, Trung Quốc lên tiếng mạnh mẽ ủng hộ cuộc chiến chống khủng bố do Mỹ phát động, tiến hành cuộc gặp gỡ cấp cao tại Hội nghị thượng đỉnh APEC tại Thượng Hải vào tháng 2/2002 và đối thoại hợp tác Mỹ - Trung chống khủng bố tại Bắc Kinh vào tháng 3/2003.

Mỹ điều chỉnh chính sách với Trung Quốc từ “đối thủ cạnh tranh chiến lược” sang quan hệ “hợp tác mang tính xây dựng”. Về phía Trung Quốc, các nhà lãnh đạo cho rằng sự kiện 11.9 là cơ hội để cải thiện quan hệ với Mỹ và để tăng cường ứng phó với hoạt động ly khai của các lực lượng đối lập ở Tây Tạng và Tân Cương.

Từ năm 2001-2005, quan hệ Mỹ - Trung trở tốt đẹp, tuy nhiên sau đó những căng thẳng giữa hai nước lại nổi lên. Những thách thức mới nảy sinh. Giới quân sự và ngoại giao Mỹ kêu gọi cảnh giác, phòng ngừa “đe dọa từ Trung Quốc”. Còn Trung Quốc lại cáo buộc Mỹ là đang tìm mọi cánh kiềm chế sự trỗi dậy của họ. Chiến lược của Trung Quốc đối với Mỹ trong giai đoạn này là chiến lược "hai mặt đối ứng".

Bên cạnh việc tăng cường tiếp xúc, đối thoại, thương lượng và phát triển những mối quan hệ hợp tác có thể đối với Mỹ, đồng thời cũng nêu cao tinh thần cảnh giác với hành động phương Tây hóa, chia rẽ, ngăn ngừa và kiềm chế Trung Quốc của Mỹ, kiên trì đấu tranh đối với những vấn đề mang tính nguyên tắc trong quan hệ song phương cũng như khu vực và quốc tế như vấn đề nhân quyền, tư tưởng ý thức hệ, tự do tôn giáo, Tây Tạng, vấn đề Đài Loan…, thực hiện mối quan hệ “vừa hợp tác, vừa đấu tranh với Mỹ”, “đấu tranh để phát triển”.

Mục tiêu của Trung Quốc là coi trọng lợi ích dân tộc, bỏ qua những khác biệt về thể chế chính trị và hình thái xã hội. Trung Quốc chủ trương duy trì quan hệ ổn định với Mỹ để tận dụng thời cơ phát triển kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường Mỹ.

Một thời gian dài hàng hóa Trung Quốc tràn ngập nước Mỹ

Phương châm chiến lược của Trung Quốc đối với Mỹ là “Tăng cường tin tưởng, giảm thiểu phiền phức, hợp tác phát triển, không có đối kháng”, chấp nhận cạnh tranh với Mỹ, cùng Mỹ “xây dựng quan hệ nước lớn kiểu mới” và quyết tâm thực hiện “giấc mộng Trung Hoa”, đưa Trung Quốc trở thành cường quốc đứng đầu thế giới vào giữa thế kỷ XXI.

Bản chất mối quan hệ Trung - Mỹ là vừa hợp tác, vừa cạnh tranh; vừa kìm chế, vừa đối thoại tác động không nhỏ đến mọi mặt của các nước và tình hình chính trị thế giới. Tầm quan trọng của mối quan hệ này được ông Tập Cận Bình cho rằng: "Hợp tác Mỹ - Trung sẽ mang lại lợi ích cho cả thế giới, nhưng ngược lại sẽ là thảm họa."

Hiện nay, Trung Quốc và Mỹ đều là những đối tác kinh tế lớn của nhau. Mỹ không chỉ là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc mà còn giúp Trung Quốc hội nhập với quốc tế, cung cấp nguồn vốn lớn, kỹ năng quản lý tiên tiến và công nghệ nguồn của thế giới. Trong khi đó, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn thứ hai, là chủ nợ lớn nhất của Mỹ.

Do vậy, các nhà phân tích nhận định rằng quan hệ kinh tế và thương mại của hai nước sẽ ngày càng phát triển và phụ thuộc lẫn nhau nhiều hơn và buộc chính phủ mỗi nước phải tính toán kỹ mỗi khi điều chỉnh chiến lược, chính sách đối với nước kia.

Th.S Nguyễn Thị Hải Yến

  • Xin chờ trong giây lát...