Lâm Đồng: Cần điều tra làm rõ hành vi “ngụy tạo chứng cứ và sử dụng chứng cứ ngụy tạo "để xét xử bản án số 08/2015/DS-ST ngày 22/7/2015?

Cập nhật: 18:02 | 14/08/2020
Thời gian qua, trên phương tiện truyền thông đề cập nhiều bài viết về bản án dân sự sơ thẩm số: 08/2015/DS-ST ngày 22/7/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Bảy, sinh: 1956  là Việt kiều Mỹ (tạm trú: Số 131/1 Phan Đình Phùng, Đà Lạt, Lâm Đồng) “Kiện đòi tài sản và chia tài sản chung” với bị đơn là bà Lê Thị Xuân Thảo, sinh: 1956, trú quán: Khu phố 9, Phước Mỹ, Phan Rang, Ninh Thuận, dư luận cho rằng: Việc tuyên án của TAND tỉnh Lâm Đồng có nhiều bất ổn và không có căn cứ pháp luật?    
lam dong can dieu tra lam ro hanh vi nguy tao chung cu va su dung chung cu nguy tao de xet xu ban an so 082015ds st ngay 2272015
Ông Lê Lạc trình bày với phóng viên là ông không nhận 135 chỉ vàng để mua nhà cho thầy Bảy và bà Lan như trong bản án nói, bản án vu khống cho ông, ông đòi kiện lại người làm bản án.

Khi biết được bản án dân sự sơ thẩm số: 08/2015/DS-ST đưa ra thi hành án dân sự, bà Lê Thị Như Lan, sinh: 1958, cũng là Việt kiều Mỹ (vợ ông Bảy, chị  bà Thảo) người có nghĩa vụ liên quan, đã có đơn đề nghị các cấp kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm để hủy bản án sơ thẩm đã có hiệu lực với lý do bà không phải là người chủ sở hữu khối tài sản lớn này. Thế nhưng, ngày 03/01/2019, Viện KSND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh có Thông báo số: 86/TB-VKS-DS về việc không kháng nghị giám đốc thẩm và 28/10/2019, Tòa án nhân dân tối cao có Thông báo số: 376/TB-TA Giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm trả lời: Không có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án dân sự sơ nêu trên.

lam dong can dieu tra lam ro hanh vi nguy tao chung cu va su dung chung cu nguy tao de xet xu ban an so 082015ds st ngay 2272015
Bà Lê Thị Xuân Thảo trình bày là không có ai gởi tiền cho bà để mua nhà, nếu ai nói vậy là vu khống cho bà, bà yêu cầu các cơ quan chức năng làm rõ việc ai khai là đưa tiền cho bà.

Sau nhận nhận được đơn kêu oan của bà Lê Thị Xuân Thảo, nhóm phóng viên báo điện tử Tầm nhìn đã tiến hành thu thập các tài liệu, làm việc với các cơ quan tố tụng ở Lâm Đồng, bà Thảo và một số đương sự khác, những lời trình bày của họ hoàn toàn khác và trái lại với lời khai được tòa án sử dụng làm chứng cứ để xét xử.

Bà Thảo và ông Trần Văn Ruộng (là chồng) khẳng định: Vào 1998, họ không hề nhận tiền của ông Bảy và bà Lan từ nước Mỹ chuyển về để mua giúp thửa đất tại số: 263, xóm 2, Lâm Tuyền, thị trấn D`Ran, Đơn Dương, Lâm Đồng, nguồn tiền mua thửa đất trên là tài sản của vợ chồng họ.

lam dong can dieu tra lam ro hanh vi nguy tao chung cu va su dung chung cu nguy tao de xet xu ban an so 082015ds st ngay 2272015
Ngôi nhà bà Lê Thị Xuân Thảo bỏ tiền tích góp ra mua, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất huyện Đơn Dương cấp nhưng tòa án tỉnh Lâm Đồng do thẩm phán Bùi Hữu Nhân lại tuyên là của bà Lê Thị Như Lan và ông Nguyễn Văn Bảy. Mặc dù bà Lan đã từ chối nhiều lần.

Bà Lan khai: Vào năm 1998, vợ chồng bà đang định cư tại Mỹ, lúc này vợ chồng bà chưa ly hôn, không có sự việc bà cùng chồng gửi tiền cho bà Thảo và ông Ruộng để nhờ đứng tên mua thửa đất đó.

Còn ông Lê Lạc là người có nghĩa vụ liên quan cũng cho rằng: Bản án dân sự sơ thẩm số: 08/2015/DS-ST ngày 22/7/2015 nhận định và kết luận ông là người đứng ra giao dịch, tự đi mua 135 chỉ vàng tại tiệm vàng Hồng Ngọc để giao cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Ẩm và bà Đinh Thị Xuân là chủ sở hữu thửa đất trên là hoàn toàn bịa đặt, không có căn cứ, vu khống có thể khởi kiện người viết biên bản này.

 Đối chiếu lời trình bày của các đương sự trên, chúng tôi nhận thấy. Đây là vụ án đòi tài sản, (liên quan đến việc tranh chấp quyền sở hữu thửa đất được UBND huyện Đơn Dương tỉnh Lâm Đồng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: SO74305 ngày 23/5/2001 đã cấp cho bà Lê Thị Xuân Thảo), nhưng Tòa án tỉnh Lâm Đồng chỉ dựa vào lời khai của đương sự trong hồ sơ vụ án để xét xử, các chứng cứ khác như: Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn Bảy và Lê Thị Như Lan với vợ chồng ông Nguyễn Văn Ẩm và bà Đinh Thị Xuân ngày 20/5/1098 và tài liệu khác chỉ là bản phô to không có công chứng hoặc chứng thực, nên không xác định là chứng cứ. Theo pháp luật quy định lời khai của đương sự chỉ được sử dụng làm chứng cứ, khi phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án. Việc thu thập, xác định nguồn chứng cứ của Tòa án tỉnh Lâm Đồng đã vi phạm thủ tục nghiêm trọng, theo Điều 83 BLTTDS năm 2004 quy định:

lam dong can dieu tra lam ro hanh vi nguy tao chung cu va su dung chung cu nguy tao de xet xu ban an so 082015ds st ngay 2272015
Luật sư Nguyễn Hữu Phúc thuộc đoàn luật sư TP. Đà Nẵng trình bày các điều luật liên quan đến bán án mà tòa án tỉnh Lâm Đồng 

Điều 83. Xác định chứng cứ

1. Các tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận.

2. Các tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản xác nhận xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó.

Mặt khác, theo Thông báo số: 86/TB-VKS-DS về việc không kháng nghị giám đốc thẩm của Viện KSND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh và Thông báo số: 376/TB-TA của TAND tối cao lấy lý do: Bà Thảo không cung cấp chứng cứ chứng minh việc thanh toán bằng vàng khi mua thửa đất trên, nên không có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là có nhiều bất ổn, chưa thật sự khách quan và công tâm với trách nhiệm là cơ quan nghiệp vụ cấp trên và cơ quan theo theo dõi việc giám đốc thẩm các bản án đã có hiệu lực pháp luật ở cấp dưới, bởi lẽ:

UBND huyện Đơn Dương tỉnh Lâm Đồng khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: SO74305 ngày 23/5/2001 cho bà Lê Thị Xuân Thảo chắc chắn đã đầy đủ thủ tục theo quy định của pháp luật (theo Công văn 1096/UBND ngày 13/8/2012).

Theo Thông báo trên TAND tối cao còn cho rằng: TAND tỉnh Lâm Đồng đã thực hiện các thủ tục tống đạt, niêm yết công khai Giấy triệu tập, thông báo hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử…cho bà Thảo và những có nghĩa vụ liên quan là đúng pháp luật, nhưng thực tế, hầu hết các đương sự trong vụ án như: Bà Thảo, bà Lan, ông Ruộng, anh Nguyễn Văn Lạc và chị Bùi Thị Lệ Thu (vợ chồng con trai bà Xuân)… đều cư trú ở nơi khác, từ trước đến nay họ đang cư trú tại địa phuơng, nhưng họ không hề nhận được các văn bản tố tụng của tòa án, cũng như không biết được việc công khai các văn bản trên tại trụ sở UBND xã hoặc trên các phương tiện truyền thông, thông tin khác, (kể cả Bản án dân sự sơ thẩm số: 08/2015/DS-ST ngày 22/7/2015), nên không thể thực hiện quyền của mình theo pháp luật quy định, việc làm trên của Tòa án tỉnh Lâm Đồng đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục niêm yết công khai

theo quy định tại Điều 154. BLTTDS năm 2004.

1. Việc niêm yết công khai văn bản tố tụng chỉ được thực hiện khi không rõ tung tích của người được cấp, tống đạt hoặc thông báo hoặc không thể thực hiện được việc cấp, tống đạt hoặc thông báo trực tiếp.

2. Việc niêm yết công khai văn bản tố tụng do Toà án trực tiếp hoặc uỷ quyền cho Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được cấp, tống đạt hoặc thông báo được thực hiện theo thủ tục sau đây:

a) Niêm yết bản chính tại trụ sở Toà án, Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được cấp, tống đạt hoặc thông báo;

Đối với trường hợp ông Lê Lạc, là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Theo bản án Sơ thẩm cho rằng ông Lê Lạc là người trực tiếp đứng ra giao dịch và là người trực tiếp giao số vàng để thanh toán cho bên bán thửa đất nêu trên nhưng khi làm việc với phóng viên Báo điện tử Tầm Nhìn ông Lê Lạc không thừa nhận và cho rằng những tài liệu được lưu trong hồ sơ vụ án dùng làm chứng cứ là tài liệu giả. Do đó những ai đã có hành vi làm giả mạo giấy tờ hoặc nhân danh của ông Lê Lạc để ký các văn bản đó cần phải xử lý theo quy định tại điều 267 Bộ luật Hình sự năm 1999. Tại điều luật ấy có ghi:

Điều 267. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức

1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ đó nhằm lừa dối cơ quan, tổ chức hoặc công dân, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c)  Gây hậu quả nghiêm trọng;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ bốn năm đến bảy năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng.

Để trả lại quyền lợi cho bà Thảo là người chủ sở hữu hợp pháp đối với thửa đất đã được UBND huyện Đơn Dương tỉnh Lâm Đồng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: SO74305 ngày 23/5/2001,  chúng tôi đề nghị các cơ quan có thẩm quyền căn cứ Điều 283 và Điều 284 BLTTDS năm 2004 kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm để hủy bản án sơ thẩm đã có hiệu lực như đã nêu trên./.

 Các cơ quan chức năng cần  vào cuộc điều tra xem xét quá trình thụ lý vụ án và có hay không sự ngụy tạo “chứng cứ” giả của nguyên đơn và cấu kết với các cán bộ, tổ chức liên quan tới vụ án để đưa vụ án ra xét xử với những chứng cứ không thực và kết luận bản án không khách quan như trên đã nêu. 

Báo điện tử Tầm nhìn sẽ tiếp tục thông tin về vụ việc này tới độc giả .

VP Miền Trung

  • Xin chờ trong giây lát...