Nhà thờ họ Vũ Đại Tôn làng Đông Xương nơi lưu trú những ẩn tích lịch sử của những vị Công Thần

Kỳ 2: 11 vị Quận công làm nên dòng họ có nhiều Quận công nhất xứ Nghệ

Cập nhật: 11:47 | 20/02/2020
Ngoài Đại tướng quân, Tham đốc, Dũng Nghĩa hầu Vũ Trung Lương, thì dòng họ nơi đây còn có tới 11 người dược phong các tước hầu, tạo nên nên một dòng họ có nhiều Quận công tước hầu bậc nhất xứ Nghệ.  
ky 2 11 vi quan cong lam nen dong ho co nhieu quan c Nhà thờ họ Vũ Đại Tôn làng Đông Xương nơi lưu trú những ẩn tích lịch sử của những vị Công Thần Kỳ 1. Vũ Trung Lương vị Công thần của nhà Lê

Với lịch sử hơn 500 năm, khu di tích lịch sử nhà thờ họ Vũ đại tôn ở làng Đông Xương nay là xóm Đông ...

Theo các tài liệu đang được lưu trữ tại Ban Quản lý Di tích – Danh Thắng Nghệ An thì ngoài Đại tướng quân, Tham đốc, Dũng Nghĩa hầu Vũ Trung Lương thì dòng họ nơi đây còn có tới 11 Quân công đã được các triều đại tấn phong và ban cấp lộc điền.

ky 2 11 vi quan cong lam nen dong ho co nhieu quan c
Khu vực Trung điện của di tích.

Trong đó, con trai cả của ông Vũ trung Lương là Ông Vũ Phác Lược. Ông sinh vào năm 1454( Giáp Tuất – niên hiệu Diên Ninh),

Sống trong một gia đình có truyền thống thuộc dòng nhà võ. Là con trai cả nên ông được cha mẹ cho ăn học tử tế. Thuở nhỏ, Vũ Phác Lược đã sớm theo cha rèn binh, luyện võ nên dần trong ông đã có chí hướng, sự nghiệp của người cha là phải phò vua, giúp nước. Ông là người thông minh, sáng dạ, có năng khiếu về võ nghệ, ham học hổi cho nên ông rất giỏi về binh pháp.

Tháng 12 năm 1470 (Canh Dần), vua Lê Thánh Tông xuống chiếu thân chinh đi dẹp quân Chiêm Thành ở Hoá Châu, sai người xuống tuyển hoàng đinh từ 15 tuổi trở lên để bổ sung cho quân ngũ. Vì vậy, Vũ Phác Lược được đứng vào hàng ngũ quân đội triều Lê. Vốn là người khoẻ mạnh, võ nghệ hơn người, ông được Thái sư Đinh Liệt phát hiện ra tài năng và đã giao cho ông chức đội trưởng chỉ huy đội binh.

Tháng giêng năm Hồng Đức thứ 2 (1471), vua Lê Thánh Tông ra lệnh cho hai đạo quân: Đạo quân thứ nhất do thân chinh nhà Vua chỉ huy hơn 20 vạn quân đóng ở Thuận Hoá, đạo quân thứ 2 do các tướng Đinh liệt và Lê Niệm cùng 26 vạn tinh binh nhuệ trong đó có đội binh do Vũ Phác Lược chỉ huy, theo đường thuỷ, bộ tiến vào đất Hoá Châu

Ngày 5 tháng 2 năm 1471, tướng Chiêm Thành là Trà Toàn đem 6 viên tướng và 5.000 quân, voi định đánh úp vào doanh trại của vua Lê ở Thuận Hoá. Vua bí mật sai người cấp báo với tướng lĩnh của các cánh quân và lên kế hoạch đánh “Tả du kích”. Lúc bấy giờ quân của tướng Đinh Liệt đóng ở cửa biển Tân Áp (phủ Tam kỳ, Quảng Nam), Lê Niệm đóng ở cửa biển Hiệp Hoà (Quảng Nam), Lê Huy Cát đóng ở cửa biển Cựu Toạ (Quảng Nam) đem hơn 500 chiếc thuyền, 3 vạn tinh binh ban đêm vượt cửa biển Sa Kỳ (Phủ Bình Sơn, Quảng Ngãi) lập đồn luỹ để chặn đường về của quân giặc. Còn quân bộ binh của Vũ Phác Lược dã được lệnh đem bộ binh mai phục các đường ven chân núi. Trong trận này, quân ta đã chiến thắng lơn, quân đội của Vũ Phác Lược chém được hơn 100 đầu giặc, bắt sống hơn 20 người. Sau khi chiến thắng vua Lê thu quân về Đông Kinh và mở tiệc ăn mừng, bình công khen thưởng những người có công, Vũ Phác Lược lập được công lớn và được vua Lê phong chức Vệ Uý tước Quản Lan Hầu

Năm 1480 (Canh Tý), ông Vũ Phác Lược được triều đình nhà Lê phái lên trấn Tuyên Quang với chức Thừa Tuyên Sứ. Năm 1511 (Tân Mùi) Vũ Phác Lược lại được vua Lê phong chức Đề đốc tướng quân.

Năm 1524 (Giáp Thân), khi Mạc Đăng Dung chuẩn bị cướp ngôi nhà Lê, triều chính lại càng rối ren, các quan thần chia bè kết đảng, xu nịnh, nhiều cựu thần của triều Lê đã bị Mạc Đăng Dung hãm hại. Trước bối cảnh đó, ông Vũ Phác Lược vì tuổi cao, sức yếu nên ông đã từ quan về quê, tiếp tục cùng con cháu khai khẳn đất đai các xứ và xây dựng làng mạc quê hương.

Năm 1532 (Nhâm Thìn), ông Vũ Phác Lược mất tại làng Đông Xương, thọ 78 tuổi. mộ an táng tại phía tây núi Mả Tổ (nằm trong khuôn viên mộ của cha là Dũng Nghĩa hầu Vũ Trung Lương), toạ càn hướng Tốn, gọi là Thiên Long Môn Cách.

Sau khi ông Vũ Phác Lược mất, nhân dân làng Đông Xương tôn làm vị phúc thần của làng và được thờ tại đền Đông Xương cùng với cha là Tham đốc, Dũng nghĩa hầu Vũ Trung Lương.

Đời vua Lê Kính Tông niên hiệu Thuận Đức(1600), nhớ ơn vị quan quân có công đối với Lê triều, vua đã ban sắc phong cho ông Vũ Phác Lược “Lê triều tán trị phiệt duyệt công thần, Quản Lan hầu, Đề đốc tướng quân…” (Do thiên tai, chiến tranh hoả hoạn nên hiện nay sắc này không còn mà căn cứ theo vị hiệu của ông Vũ Phác Lược còn lưu tại di tích). Đến triều Nguyễn năm Khải Định thứ 9 (Giáp tý - 1424), ông Vũ Phác Lược lại được sắc phong, nội dung như sau:

Sắc cho giáp Trung Đình, làng Đông Xương, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An theo như trước thờ phụng thần vốn được tặng là Dực bảo Trng hưng linh phù Vũ tướng công. Thần giúp đỡ đất nước, che chở nhân dân, linh ững rõ ràng, đã lần lượt được ban cấp sắc phong, chuẩn cho thờ phụng. Cho nên, nay đúng dịp đại lễ tứ tuần (mừng tho 40 tuổi) của trẫm, đã ban chiếu báu, mở rộng ân huệ, lễ lớn tăng thêm cấp bậc, nên gia tặng là Đoan túc tôn thần. Đặc chuẩn cho thờ phụng, dùng để ghi nhớ ngày mừng của đất nước mà làm sáng tỏ điển thờ

Vậy sắc

Ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924)

( Sắc mệnh chi bảo)

ky 2 11 vi quan cong lam nen dong ho co nhieu quan c
Bản sắc phong của triều Nguyễn đang được lưu giữ tại di tích.

Năm 1954, sau cải cách ruộng đất đền Đông Xương đã bị phá dỡ, con cháu họ Vũ đã rước long ngai, bài vị, sắc phong và một số đồ tế khí về nhà thờ dòng họ.

Hương cống Vũ Huy Chuẩn: 1754 – 1782.

Ông Vũ Huy Chuẩn sinh năm 1754 (Giáp Tuất) tại làng Đông Xương.

Thưở nhỏ, Huy Chuẩn có tướng mạo khôi ngô, thông minh, lanh lợi, đối đáp rất tinh nhanh. Sinh thời, Huy Chuẩn là con nhà nghèo nhưng lại hiếu học, ban đêm muốn học nhưng đèn dầu lại không có, mỗi lần đọc sách ông phải thắp hương mà đọc, cứ như thế đọc hết cuốn này đến cuốn khác. Vũ Huy Chuẩn sớm khuya học tập mong lập được nghiệp lớn đem tài trí của mình giúp ích cho đời. Năm 19 tuổi, Vũ Huy Chuẩn đậu Tú Tài – khoa Quý Tị( 1773).

Sau khi thi đỗ Tú Tài, Huy Chuẩn tiếp tục dùi mài kinh sử, đến năm Đinh Dậu( 1777) – niên hiệu Cảnh Hưng 38, ông đỗ Hương Cống Ân khoa (Cử nhân) và đã được triều Lê cử làm giám sinh trường Quốc Tử Giám.

Đến tháng giêng năm Cảnh Hưng 39 (Mậu Tuất -1778), Vũ Huy Chuẩn được vua Lê Hiển Tông ban phát áo, mũ, xiêm, đai, ngựa tốt để về Vinh quy bái tổ. Trong dịp này, ông đã triệu tập các trang của bản tộc (Trang Cồn Nhà, trang Thỗ Ngoã, trang Đông Cẩu Hạ) bỏ tiền, của cho nâng cấp, xây dụng lại từ của họ tộc làm nơi thờ cúng, hương hoả cho tổ tiên, soạn thảo và viết cuốn gia phả cho dòng họ, lập bia, mộ chí… để lại cho con cháu nối tiếp nhau gìn giữ, hiểu biết về cội nguồn dòng họ.

Ngày 18 tháng 10 năm 1782( Nhâm Dần), ông Vỹ Huy Chuẩn được vua Lê triệu về triều đình để nhậm chức. Vì giai đoạn này tình hình chính trị của đất nước đang có nhiều biến động, rối ren, chia nhiều bè đảng, ở Đàng Ngoài là chính quyền Lê- Trịnh, còn ở Đàng Trong có chính quyền Tây Sơn Nguyễn Nhạc đang chuẩn bị đối đầu với giặc Xiêm – Nguyễn Ánh. Chính vì vậy, trrên đường ra Đông Kinh ông Vũ Huy Chuẩn đã bị thất lạc với gia đình không rõ nguyên nhân.

Ông Vũ Đính: 1827 - ?

Theo gia phả dòng họ Vũ đại tôn cho biết: Vũ Đính sinh năm 1827 (năm Đinh Hợi – Minh Mệnh thứ 8), tại Giáp Trung Đình, làng Đông Xương, tổng Vạn Phần, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, xứ Nghệ.

Xuất thân trong một gia đình tương đối khá giả, Vũ Đính được cha mẹ hết lòng chăm sóc, cho ăn học đến nơi đến chốn. Nhờ có thể lực khoẻ mạnh, tư chất thông minh, sáng dạ, ham học hỏi, nên khi vào tuổi trưởng thành ông đã thông thạo thiên văn, địa lý. Đến tháng 5 năm Quý Mão ( 1843), khi ông tròn 16 tuổi thì cha mẹ đều qua đời.

Năm 19 tuổi, ông được tuyển đi lính và phái vào Nam Kỳ lục tỉnh để xây Hiếu Lăng (xây lăng mộ cho vua Thiệu Trị). Sau đó được phái ra Bắc kỳ tứ tỉnh để canh giữ biên ải Lào Cai, được vua Tự Đức ân cấp bằng Ngũ Trưởng. Nhưng thời kì này giặc Pháp đang trên đà thôn tính đất nước ta, triều Nguyễn lại nhu nhược, ký từ Hiệp ước này đến Hiệp ước khác. Trước hoàn cảnh thời cuộc như vậy, ông Vũ Đính chán nản và xin cáo về quê. Sau khi về quê, ông đã cùng con cháu sửa sang lại Từ đường cho thêm phần ấm cúng và tích cực sản xuất, xây dựng quê hương, nên đã được giữ chức Phó lý, rồi đến Thủ khoản của làng Đông Xương. Năm 47 tuổi (Giáp Tuất – 1874), bản tổng Vạn Phần cử ông làm Chánh Quản Đoàn, bản xã lại bầu ông làm Thủ giáp.

Tháng 7 năm 1885, khi kinh đô Huế thất thủ, vua Hàm Nghi đã xuống chiếu Cần Vương. Dưới ngọn cờ Cần Vương, Vũ Đính kêu gọi các tướng võ từ tổng, làng, xã gia nhập vào nghĩa quân do Nguyễn Xuân Ôn làm thủ lĩnh. Với tài giỏi võ nghệ, thông thạo địa hình, địa lý, ông đã được thủ lĩnh giao cho chức Quản huyện, chuyên đi tuần tra và canh gác, bảo vệ dân làng.

Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Xuân Ôn chẳng bao lâu lan rộng khắp Nghệ An, thu hút nhiều bậc hiền tài, võ tướng tham gia như: Lê Doãn Nhã, Trần Quang Diệm, Đinh Nhật Thận, Nguyễn Văn Ngợi, Vũ Đính… Nghĩa quân đã tiến đánh nhiều trận Cầu Giát, làng Tây Khê (Cầu Bùng), Đồn Sy, Thừa Sủng, Cầu Đậu, Bảo Nham, thành Diễn Châu,… gây nhiều tiếng vang lớn.

Sau cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Xuân Ôn bị thất bại năm 1887, thực dân Pháp đã đốt phá nhà cửa của ông Vũ Đính và từ đường của họ tộc. Chỉ còn lại khung nhà Trung Đường bị cháy xém. Năm Kỷ Sửu (1889), ông Vũ Đính được nhân dân địa phương bầu làm chánh xã Thục làng Đông Xương khi ông đã 65 tuổi, với nhiệm vụ trù tính việc làng. Năm 1891 (Thành Thái thứ 3 – Tân Mão), ông dựng lại nhà ở và một lần nữa ông kêu gọi con cháu quyên góp, công đức trùng tu lại Từ đường 02 toà: Trung đường và Thượng đường để nghìn năm hương hoả. Đến mùa đông năm Đinh Dậu (1897- Thành Thái thứ 9), mua sắm thêm đồ tế khí để thờ tự cho trang nghiêm. Tháng Giêng năm Mậu Tuất (1898 – niên hiệu Thành Thái thứ 10), ông Vũ Đính hội họp các trang tộc của dòng họ tiếp tục chỉnh sữa, bổ sung lại gia phả dòng họ thêm hoàn chỉnh hơn.

Ngoài các nhân vật tiêu biểu trên, nhà thờ còn thờ phụng một số nhân vật có công trong lịch sử như: (Do đang hạn chế về tư liệu nên công lao, hành trạng chưa được ghi chép rõ ràng)

Ông Vũ Đắc Tài (Con trai thứ 2 của cụ Vũ Trung Lương). Tên thuỵ là Phúc Diên. Ông sinh vào khoảng nữa cuối thế kỷ XV, có công lớn dưới triều vua Lê Trang Tông, được triều Lê phong là “Tán trị công thần chánh Tam phủ. Trung Lộc hầu”.

Ông Vũ Đắc Vinh (con trai ông Vũ Phác Lược). Tên thuỵ Hùng Kính. Ông sinh vào khoảng cuối thế kỷ XV. Vũ Đắc Vinh có công dưới triều Lê Anh Tông, niên hiệu Chính Trị 2, được vua Lê tặng sắc phong là “Tán trị công thần, phụng quản nhưng chính đội đội trưởng, Phúc Lĩnh hầu”.

Ông Vũ Đắc Vinh,tên thụy Hùng Quả, sinh vào nữa đầu thế kỷ XVI. Do có công lớn nên được triều Lê phong là “Tán trị công thần, Triều Ba hầu”,

Ông Vũ Hùng Cảm, sinh vào nữa đầu thế kỷ XVI. Do có công lớn nên được triều lê phong là “Tán trị công thần, Triều Bái hầu”.

Ông Vũ Viết Dũng, sinh vào giữa thế kỷ XVI. Thời vua Lê Dụ Tông, niên hiệu Bảo Thái, ông được truy phong là “ Tán trị công thần, chánh đội trưởng kiêm tổng tri, Triều Lương hầu”.

Ông Vũ Công Ích, Ông sinh vào đầu thế kỷ XVIII, có công lớn dưới triều Lê Thuần Tông (1732). Được vua Lê sắc phong “Tán trị công thần”. mộ táng tại núi Mả Tổ.

Hiện,tại nhà thờ còn hai câu do vua Tự Đức ban tặng như sau:

Câu 1: Lê triều Đại tướng sắc ân ban / Vũ gia môn tộc lĩnh y bào

Câu 2: Thập nhất Quận công lưu truyền viễn / Đông Đình thắng địa phúc sơn cao

Nhà thờ họ Vũ đại tôn là 1 di tích cổ trải qua thời gian, chiến tranh, thiên tai cho nên di tích không còn nguyên vẹn. Đặc biệt tại nhà thờ càn lưu trứ 4 sắc phong thời nguyễn, 1 cuốn gia phả cổ và 1 bia đá

ky 2 11 vi quan cong lam nen dong ho co nhieu quan c
Cuốn Ngọc phả của dòng họ đang được lưu trữ tại khu di tích.

Ngày 12 tháng 8 năm 2013, UBND tỉnh Nghệ An đã ra quyết định công nhận Nhà thờ họ Vũ Đại tôn là di tích lịch sử văn hóa cấp Tỉnh.

Đình Thắng

  • Xin chờ trong giây lát...