GS.TS - Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Thị Mỹ Lộc : Người nâng tầm giáo dục Việt Nam

Cập nhật: 16:09 | 20/11/2019
Trong ngành Giáo dục và Sư phạm Việt Nam nhiều thập kỷ nay Giáo sư ,Tiến sĩ ,Nhà giáo nhân dân Nguyễn Thị Mỹ Lộc luôn được biết đến là một trong những vị Giáo sư , Tiến sĩ Tâm lý - Giáo dục hàng đầu Việt Nam. Bà nguyên là Hiệu trưởng trường Đại học Giáo dục (trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội) và hiện nay là Chủ tịch Hội đồng Khoa học của trường Đại học Giáo dục.Bà là người tiên phong trong việc đưa mô hình đào tạo giáo viên A+B vào thí điểm trong trường đại học ở Việt Nam.  

Nhân ngày Hiến chương Nhà giáo 20/11, PV Tamnhin.net đã có cuộc trao đổi với Bà để hiểu rõ hơn về con đường nghiên cứu khoa học không mệt mỏi với nhiều thành tựu và đầy hứa hẹn mà bà đã góp phần thay đổi , đưa Giáo dục thực sự trở thành một môn Khoa học.

gsts nha giao nhan dan nguyen thi my loc nguoi nang tam giao duc viet nam
GS,TS - Nhà giáo nhân dân Nguyễn Thị Mỹ Lộc

PV : Thưa Giáo sư, được biết Bà là người đầu tiên triển khai thí điểm mô hình đào tạo giáo viên tiên tiến ở Việt Nam, Bà có thể chia sẻ rõ hơn cho độc giả Tamnhin.net về mô hình này và điểm khác biệt với mô hình sư phạm truyền thống?

GS.TS - NGND Nguyễn Thị Mỹ Lộc: " Năm 1999 , Khoa sư phạm của trường Đại học Quốc gia (sau này là trường Đại học Giáo dục) được thành lập sau khi trường Đại học Sư phạm tách khỏi trường Đại học Quốc gia Hà Nội. Điều này xuất phát từ ý tưởng của trường Đại học Quốc gia muốn thí điểm mô hình đào tạo giáo viên kiểu mới - mô hình " Đào tạo nối tiếp".

gsts nha giao nhan dan nguyen thi my loc nguoi nang tam giao duc viet nam
Ban giám hiệu trường ĐHGD qua các thời kỳ ( GS,TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc thứ 2 từ trái sang).

Mô hình đào tạo truyền thống là đào tạo giáo viên từ đầu trong suốt 4 năm theo học. Còn ở mô hình mới, các em bắt đầu có thể học cử nhân các ngành khoa học tự nhiên , khoa học xã hội ở các trường ĐH cơ bản, sau đó các em sẽ học thêm nghiệp vụ,kỹ năng sư phạm để trở thành giáo viên.

Mô hình tổng quát này còn được gọi là A+B và đòi hỏi hai tiêu chí cơ bản:Thứ nhất, các em phải có kiến thức chuyên sâu về các chuyên ngành Khoa học cơ bản mà các em được học.Thứ hai, để trở thành giáo viên, các em sẽ phải bồi dưỡng thêm nghiệp vụ sư phạm.Mô hình mới này có hai ưu điểm nổi bật : Đầu tiên là "sự linh hoạt". Nó góp phần giải quyết tình trạng khủng hoảng nhân lực giáo viên do thiếu quy hoạch đào tạo và sử dụng giáo viên. Các em khi học xong phần A nếu không muốn theo nghề giáo viên hoàn toàn có thể trở thành các nhà nghiên cứu khoa học. Ngược lại,các cơ sở đào tạo giáo viên theo quy hoạch , yêu cầu của các cơ sở giáo dục địa phương sẽ tuyển các em có năng khiếu ,có nhu cầu để đào tạo nghiệp vụ.

Sau nữa là "tính chuyên môn cao" . Mô hình này tạo cho những " giáo viên tương lai" cái nền rất chắc chắn về môn học của họ. Họ không còn là " giáo viên" mà sẽ thực sự trở thành những "chuyên gia giáo dục". Các em sẽ có tầm nhìn rộng hơn về các ngành khoa học cơ bản Toán, Văn, .... Bên cạnh việc giảng dạy các em còn có khả năng phát triển chương trình.

Những " giáo viên hiệu nghiệm" sẽ có xu hướng tin vào năng lực dạy học của họ do đã có kiến thức khoa học chuyên sâu , có sự quan tâm chu đáo đến việc dạy học và học sinh của họ cũng như việc hợp tác với mọi người.

Các nghiên cứu cho thấy rằng, việc học tập của học sinh sẽ tốt hơn khi các em được " lôi cuốn vào quá trình học tập một cách tích cực" khi giáo viên sử dụng nhiều phương pháp giảng dạy đa dạng, khi nhịp độ truyền thụ kiến thức cho các học sinh khác nhau được biến đổi thông qua việc sử dụng những biện pháp - bài tập cá nhân, hoạt động nhóm, bạn bè hỗ trợ... để đạt được mục đích nhận thức có thứ bậc cao hơn. Qua đó , việc học tập - phát hiện, các thao tác quy nạp , việc dạy để thấu hiểu, phương pháp phán đoán, các hoạt động và các kỹ thuật thí nghiệm sẽ có hiệu quả cao hơn."

PV : Điều gì đã thúc đẩy bà triển khai mô hình này?

GS.TS - NGND Nguyễn Thị Mỹ Lộc : "Với tôi, dạy học là một " nghề nghiệp" có tính chuyên biệt - không chỉ bởi tính chuyên môn của nghề nghiệp này mà còn bởi sự đặc thù của mối tương tác nhân văn giữa người lao động , người hành nghề với đối tượng tác động của nghề dạy học là những cá nhận, tập thể học sinh đang phát triển...

Tính chuyên nghiệp của nghề dạy học đòi hỏi người giáo viên phải là người " tinh thông nghề nghiệp", hiểu theo nghĩa đầy đủ nhất là : có sự hiểu biết về nội dung môn học, phải có tri thức sư phạm, có tri thức về sự phát triển, phải hiểu biết về sự khác biệt, hiểu biết về động cơ, làm chủ được các chiến lược dạy học, hiểu biết về việc đánh giá học sinh...

Việc dạy học phải là " nghiệp" của người giáo viên, có nghĩa người giáo viên phải có lý tưởng sư phạm - cái tạo nên động cơ cho việc thực hành nghề dạy học.

Lý tưởng sư phạm là ý đồ đạt đến sự hoàn thiện quá trình sư phạm với cảm xúc đam mê của sự cống hiến tự nguyện và đầy đủ nhất toàn bộ sức lực, trí tuệ, tình cảm cho việc giáo dục đào tạo lớp người hậu sinh, để họ - đám học trò ấy rồi sẽ phải giỏi giang hơn thầy , phải là " hậu sinh khả úy". Lý tưởng sư phạm là hình ảnh của người giáo viên tận tụy suốt đời vì sự nghiệp giáo dục đào tạo thế hệ trẻ với những hoài bão cao cả về tương lai của học trò, với những đam mê truyền đạt ý thức, ý nguyện, niềm tin và giá trị mà mình hằng ấp ủ cho các em, để dạy dỗ các em thành những công dân hữu ích cho Tổ quốc".

PV : Trong hơn 40 năm làm giáo dục và 20 năm là người đứng đầu trường Đại học Giáo dục, bà đã gặp những khó khăn như thế nào và Bà cùng các đồng sự tháo gỡ vấn đề ra sao? ​​​​​​

GS.TS - NGND Nguyễn Thị Mỹ Lộc: "Vô vàn gian khổ . Là người đặt nền móng cho khoa Sư phạm cũng như trường Đại học Giáo dục sau này, thách thức lớn nhất chính là đến từ những đồng nghiệp, lãnh đạo của ngành giáo dục.

Khi trình bày đề án thành lập trường cũng như thí điểm mô hình đào tạo giáo viên, câu hỏi được đặt ra nhiều nhất là " Tại sao lại đặt tên là Giáo dục mà không phải là Sư phạm như các trường khác".Chẳng nhẽ các trường Sư phạm khác không có "Giáo dục". Chúng tôi đã thực sự phải " sống chết" để giữ lấy tên trường là Đại học Giáo dục như bây giờ."

Ở đậy, chúng ta phải làm rõ "Sư phạm chỉ là một cấu phần của Giáo dục". Ở Đại học Giáo dục, chúng tôi không chỉ đào tạo giáo viên. Slogan của chúng tôi là " Educator for tomorow " ( Nhà giáo dục cho tương lai). Cái hạt nhân , cái lõi phải là " người thầy" nhưng cái tổng thể trong con người phải là một " nhà giáo dục". Họ không chỉ biết mỗi môn họ giảng dạy mà còn phải hiểu về môi môi trường tự nhiên ,xã hội ảnh hưởng đến con người ra sao? Vì họ là người ảnh hưởng , tác động đến nhân cách những con người khác.

Đây là một thiết chế đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam đào tạo những " chuyên gia giáo dục", bên cạnh đó là " chuyên gia hướng nghiệp", " chuyên gia về tâm lý học lâm sàng cho trẻ em và vị thành niên..."

Khi có dịp sang tham quan các cơ sở giáo dục cúa các nước phát triển, tôi rất ngạc nhiên vì giáo dục của họ quá phát triển. Mô hình đào tạo giáo viên chúng tôi thí điểm là mới mẻ ở Việt Nam nhưng ở họ đã có quá trình phát triển hơn 100 năm.

Đó là điều may mắn vì chúng ta có thể đúc rút từ những kinh nghiệm , sai lầm của họ để hoàn thiện hơn mô hình ở Việt Nam.

Nhưng đó cũng chính là thách thức lớn nhất với chúng tôi. Chúng ta không thể bê nguyên xi mô hình đào tạo của họ để áp dụng tại Việt Nam vì sự khác biệt quá lớn về văn hóa. Mô hình của họ đúng nghĩa là " từ khi sinh ra đã có như vậy" còn ở Việt Nam là cuộc đấu tranh sinh tồn thực sự giữa " phá bỏ lối tư duy cũ" và " tiến tới cái mới, cái thiết thực hơn".Chúng tôi không chỉ thay đổi nhận thức của các giáo viên, lãnh đạo ngành giáo dục mà hơn thế là của các vị phụ huynh để họ tin tưởng giao con em cho chúng tôi.

gsts nha giao nhan dan nguyen thi my loc nguoi nang tam giao duc viet nam
GS, TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc cùng các đồng sự nhận bằng khen của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT

Sau hơn 20 năm hình thành và phát triển , Trường Đại học Giáo dục đã góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ngành giáo dục và cho cả nước; nguồn lực giảng viên với những con số ấn tượng: 84% có trình độ tiến sĩ và 30% có chức danh khoa học là GS,PGS; nghiên cứu khoa học giáo dục; Phát triển về lý luận và thực tiễn về khoa học giáo dục; tích cực chủ động trong việc tham gia vào các nhóm xây dựng chính sách của nhà nước.

gsts nha giao nhan dan nguyen thi my loc nguoi nang tam giao duc viet nam
Chứng kiến "đứa con tinh thần thai nghén" tròn 20 tuổi, GS.TS NGND Nguyễn Thị Mỹ Lộc xúc động, viết tặng Trường bài thơ "Mừng tuổi 20 Trường Đại học Giáo dục"

Những đóng góp của chúng tôi cho giáo dục đã được Đảng, Nhà nước ghi nhận ; các đơn vị, cá nhân của Trường đã vinh dự được chủ tịch nước, Thủ tướng chính phủ, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, Giám đốc ĐHQGHN công nhận và trao tặng các danh hiệu thi đua khen thưởng cao quý trong dịp Lễ kỉ niệm 20 năm thành lập Trường.

Ở Trường , chúng tôi thường ví von mình là "những người tí hon đứng trên vai người khổng lồ". Có thể Đại học Giáo dục "tí hon" về tuổi đời với các trường Đại học khác ở Việt Nam nhưng chúng tôi tuyệt đối không non trẻ về chuyên môn để xứng đáng với kì vọng của Đảng , Nhà nước sẽ là đầu tàu về đổi mới toàn diện giáo dục Việt Nam".

Xin cảm ơn những chia sẻ của Giáo sư,Tiến sĩ - Nhà giáo nhân dân Nguyễn Thị Mỹ Lộc!

Sau hơn 30 năm giảng dạy, nghiên cứu khoa học giáo dục và tham gia công tác quản lý (trong đó có hơn 20 năm giảng dạy đại học ), GS TS nguyễn thị mỹ lộc đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển của khoa học giáo dục nước nhà. Những đóng góp đó đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận bằng những phần thưởng cao quý như : Nhà giáo ưu tú , Huân chương Lao động Hạng 3, Danh hiệu chiến sĩ thi đua toàn quốc , Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ , Huy chương vì sự nghiệp giáo dục , Huy chương vì sự nghiệp Khoa học công nghệ , Danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp Đại học Quốc gia Hà Nội nhiều năm.

Việt Hoàng

  • Xin chờ trong giây lát...