Đưa hành vi của Trung Quốc tại vùng biển bãi Tư Chính ra trước Hội đồng bảo an Liên hợp quốc

Cập nhật: 12:10 | 08/10/2019
HIẾN CHƯƠNG LIÊN HỢP QUỐC. Điều 2. 3. [nguyên tắc cơ bản của Công pháp Quốc tế] “Tất cả các thành viên của Liên hợp quốc giải quyết các tranh chấp quốc tế của họ bằng biện pháp hoà bình, sao cho không tổn hại đến hoà bình, an ninh quốc tế và công lý”;

Điều 2. 4. [nguyên tắc cơ bản của Công pháp Quốc tế] “Tất cả các quốc gia thành viên Liên hợp quốc từ bỏ đe dọa bằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế nhằm chống lại sự bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào cũng như bằng cách khác trái với những mục đích của Liên hợp quốc”.

Điều 33. 1. [nguyên tắc cơ bản của Công pháp Quốc tế] “Các bên đương sự trong các cuộc tranh chấp, mà việc kéo dài các cuộc tranh chấp ấy có thể đe dọa đến hoà bình và an ninh quốc tế, trước hết, phải cố gắng tìm cách giải quyết tranh chấp bằng con đường đàm phán, điều tra, trung gian, hoà giải, trọng tài, toà án, sử dụng những tổ chức hoặc những điều ước khu vực, hoặc bằng các biện pháp hoà bình khác tùy theo sự lựa chọn của mình”;

Điều 34: “Hội đồng bảo an có thẩm quyền điều tra mọi tranh chấp hoặc mọi tình thế có thể xảy ra dẫn đến sự bất hoà quốc tế hoặc gây ra tranh chấp, xác định xem tranh chấp ấy hoặc tình thế ấy nếu kéo dài có thể đe dọa đến việc duy trì hoà bình và an ninh quốc tế hay không”.

Điều 35:

1. “Mọi thành viên Liên hợp quốc đều có thể lưu ý Hội đồng bảo an hoặc Đại hội đồng đến một vụ tranh chấp hay một tình thế có tính chất như ở điều 34”

hanh vi cua trung quoc tai vung bien bai tu chinh truoc hoi dong bao an lien hop quoc

CÔNG ƯỚC LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN NĂM 1982.

Điều 279: [ Phần XV, Mục 1. Các quy định chung ] “Nghĩa vụ giải quyết các tranh chấp bằng phương pháp hòa bình. Các quốc gia thành viên giải quyết mọi tranh chấp xảy ra giữa họ về việc giải thích hay áp dụng Công ước bằng các phương pháp hòa bình theo đúng Điều 2. khoản 3 của Hiến Chương Liên Hợp Quốc và, vì mục đích này, cần phải tìm ra giải pháp bằng các phượng pháp đẫ nêu tại Điều 33, khoản 1 của Hiến Chương”.

  1. Hành vi của TQ tại vùng biển Bãi Tư chính – là hành vi xâm phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam theo quy định của Công ước Luật Biển năm 1982. Khu vực TQ xâm phạm có vị trí nằm hoàn toàn trong vùng Đặc quyền kinh tế và trên Thềm lục địa của Việt Nam (đã được xác định phù hợp với Công ước Luật Biển năm 1982). Với hỗ trợ của các tầu thuyền có vũ trang, tầu cẩu Lam Kình vào sâu cách đảo Lý Sơn 30 hải lý, cách đường cơ sở của Việt Nam 11 hải lý. Từ ngày 25/9/2019, Trung Quốc điều tàu Hải Dương Địa chất 8 được hộ tống bởi ít nhất hai tầu hải cảnh 33111 và 46303 vào khảo sát sâu trong vùng biển của Việt Nam, cách bờ biển tỉnh Phan Rang-Tháp chàm 113,3 hải lý.

  2. Hành vi của TQ tại vùng biển Bãi Tư chính – là hành vi ‘đe dọa dùng vũ lực và sử dụng vũ lực’ xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, quyền tài phán của Việt Nam. Hành vi này là sự vi phạm rõ rệt nguyên tắc cơ bản của Công pháp quốc tế tại Điều 2.4. Hiến Chương Liên Hợp Quốc. TQ đã đưa các tầu Hải cảnh và dân quân biển có vũ trang để hộ tống tầu thăm dò địa chấn HD8 (tàu hải cảnh 12.000 tấn ký hiệu 3901, 3 tàu hải cảnh là Haijing 37111, Haijing và Zhonguo Haijing 46303 và tàu dân quân biển Qiong Sansah Yu0014). Việc đưa tầu thuyền có vũ trang vào vùng Biển thuộc quyền tài phán và quyền chủ quyền của Việt Nam thể hiện rõ hành vi của TQ là hành vi ‘đe dọa dùng vũ lực’ đối với Việt Nam. Những hành vi của tầu thuyền vũ trang của Trung Quốc không chỉ dừng lại ở việc ‘đe dọa dùng vũ lực’, mà trên thực tế Trung Quốc đã và dang ‘sử dụng vũ lực’ chống lại Việt Nam (đâm va trực tiếp và dùng vòi rồng công suất lớn chống lại các tầu thuyền cảnh sát biển của Việt Nam). Luật Biển quốc tế coi các tầu thuyền cảnh sát biển, tầu thuyền quân sự là Tầu thuyền Nhà nước có quy chế pháp lý như ‘lãnh thổ nổi’ khi di chuyển trên biển. Như vậy, tầu thuyền vũ trang của Trung Quốc đâm va trực tiếp các tầu CSB Việt Nam trên vùng biển của Việt Nam phải được coi là hành vi của Nhà nước Trung Quốc tấn công Nhà nước Việt Nam tại các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam theo Luật quốc tế.

  3. Hành vi của TQ tại vùng biển Bãi Tư chính – đang bị Chính phủ Hoa kỳ, cũng như nhiều chính khách quan trọng trong Chính phủ, Quốc hội Hoa kỳ lên án. Bộ Ngoại giao Hoa kỳ ngày 20/7/2019 đã tuyên bố như sau: Trung Quốc "sử dụng lực lượng dân quân biển để bắt nạt, cưỡng ép và đe dọa các quốc gia khác là hành động phá hoại hòa bình, an ninh của khu vực". Cùng với Chính phủ Hoa kỳ, các nước như Anh, Pháp, Đức, Ấn độ, Nhật Bản, Úc, v.v. đã lên án hành vi của Trung Quốc tại vùng Biển Bãi Tư Chính nói riêng cũng như việc xâm chiếm, quân sự hóa các bãi đá, đảo tại Biển Đông, ủng hộ Việt Nam giải quyết cuộc xung đột tại Biển Đông do Trung Quốc gây ra bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở Luật Quốc tế, Công ước Luật Biển Quốc tế năm 1982.

  4. Bất chấp phản đối của cộng đồng quốc tế, bất chấp pháp luật quốc tế, bất chấp quan hệ với Việt Nam thường được lãnh đạo Trung Quốc rêu rao là ‘4 tốt và 16 chữ vàng’, trên thực địa Trung Quốc hành động ngày càng hung hăng tại Vùng biển Bãi Tư Chính, xâm lấn, chà đạp thô bạo chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam, ngày 18/9/2019, ông Cảnh Sảnh, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc, đã ngang nhiên tuyên bố: “Trung Quốc có quyền chủ quyền và quyền tài phán tại quần đảo Nam Sa (quần đảo Trường Sa của Việt Nam) và các vùng nước kế cận gần bãi Tư Chính”. Bên cạnh những hành động và tuyên bố này của nhà cầm quyền Trung Quốc, có thông tin cho biết Trung Quốc đang chuẩn bị lực lượng lớn tại một căn cứ rộng tới 50 acres và 8 acres, cách biên giới Việt – Trung10 km (tọa độ 24 độ 24 phút Bắc, 106 độ 42 phút Đông). Hành động này được đánh giá là nhằm mục đích: một là để lực lượng lục quân Trung Quốc cũng có vai trò không kém gì Hải quân và Không quân; hai là để ép Việt Nam phải từ bỏ 17 vị trí trên các đảo tại Biển Đông.(Nguyễn Quang Dy, nghiencuuquocte.org 2019/10/04/ngich-ly-ca-voi-xanh).

  5. Chính phủ Việt Nam cũng đã thể hiện rõ lập trường không chấp nhận hành vi xâm phạm chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam tại vùng Biển bãi Tư Chính, yêu cầu TQ rút hết mọi tầu thuyền của Trung Quốc ra khỏi vùng Đặc quyền Kinh tế và Thềm lục địa của Việt Nam.

  6. Nhân dân Việt Nam hiện nay đang rất bức xúc, căm phẫn trước hành vi mang tính chất xâm lược rõ rệt của TQ tại Biển Đông. Mặc dù Đất nước còn đang gặp rất nhiều vấn đề khó khăn và phức tạp do nạn tham nhũng, ô nhiễm môi trường, v.v. nhưng mọi người dân Việt Nam đang rất quan tâm và lo lắng trước những hành vi hung hãn, bất chấp luật pháp quốc tế, của Trung Quốc tại Biển Đông. Kết quả thăm dò ý kiến người dân tại 54/64 tỉnh thành của Việt Nam do Viện Gallup, Hoa kỳ tiến hành, thì vấn đề người dân Việt Nam quan ngại lớn nhất hiện nay là vấn đề Biển Đông. Bà Betsy Henderson, Giám đốc Nghiên cứu, Đào tạo và Đánh giá của Đài châu Á Tự do, trực tiếp tham gia cuộc khảo sát tại thực địa ở Việt Nam, tại cuộc họp công bố kết quả khảo sát hôm 10/6/2015 cho biết: “Chúng tôi có hỏi ý kiến của những người tham gia rằng các quốc gia phương Tây có nên tham gia giúp xử lý vấn đề tranh chấp lãnh hải ở biển Đông thì cả những người dưới và trên 25 tuổi có cùng quan điểm là nên. Hơn 60% cho biết rất đồng tình với ý tưởng này” (VOA tiếng Việt, ngày 10/6/2015).

  7. Trước tình hình nguy kịch do Trung Quốc đe dọa nghiêm trọng sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền biển đảo của Việt Nam như vậy, Chính phủ Việt Nam nên chủ động có những hành động ngoại giao và pháp lý gì ?

  8. Hành động khẩn cấp trước tiên cần phải làm ngay – đó là CHÍNH PHỦ VIỆT NAM NÊN ĐƯA HÀNH VI TRUNG QUỐC ĐE DỌA DÙNG VŨ LỰC VÀ SỬ DỤNG VŨ LỰC TẠI BIỂN ĐÔNG RA TRƯỚC HỘI ĐỒNG BẢO AN LIÊN HỢP QUỐC, phù hợp với quy định của Hiến chương Liên Hợp Quốc.

  9. Theo quy định tại Điều 34 Hiến Chương Liên Hợp Quốc, hành vi của TQ tại vùng biển Bãi Tư Chính từ tháng 6/2019 cho đến nay, ngày 22/7/2019 - đang gây nên một “tình huống có thể đe dọa đến việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế”. Trước một tình huống (situation) như vậy, thì theo quy định tại Điều 35 Hiến Chương Liên Hợp Quốc, Việt Nam hoàn toàn có quyền chính thức gửi Công hàm tới Hội đồng Bảo An với nội dung lưu ý HĐBA về việc này để HĐBA xem xét và có ý kiến chính thức dưới góc độ duy trì hòa bình, an ninh quốc tế, đảm bảo thượng tôn pháp luật theo Công pháp và Luật Biển quốc tế.

  10. Trở ngại đối với Việt Nam khi trông chờ để có được một Nghị quyết của HĐBA về vấn đề này – là ở việc TQ là thành viên thường trực của HĐBA, có quyền phủ quyết Nghị quyết của HĐBA. Tuy nhiên, đấu tranh ngoại giao của Việt Nam sẽ được coi là thành công khi vấn đề này được chấp nhận đưa vào Chương trình nghị sự của HĐBA và thảo luận tại HĐBA LHQ. Mục đích này không khó đạt được, bởi lẽ theo Điều 27.2. Hiến Chương LHQ, đây là vấn đề thủ tục, không đòi hỏi phải có sự chấp thuận của cả 05 nước thành viên thường trực HĐBA LHQ. Do vậy, việc đưa vấn đề về ‘tình huống do hành vi của TQ đang gây ra tại vùng Biển Bãi Tư Chính (vùng biển phía Nam Biển Đông) đe dọa hòa bình, an ninh khu vực” vào Chương trình Nghị sự của HĐBA sẽ chỉ cần 09 là phiếu của các thành viên HĐBA. Quy định này loại trừ khả năng TQ sử dụng quyền phủ quyết.

  11. Trong thời điểm hiện nay, TQ đang chịu áp lực kinh tế-chính trị nặng nề do cuộc chiến thương mại và công nghệ với Hoa Kỳ chưa có hồi kết, TQ cũng đang chịu áp lực quốc tế trước những hành vi đàn áp, áp bức người Tây Tạng, Tân cương, cuộc đấu tranh vì dân chủ và nhân quyền của Nhân dân tại Hongkong, TQ đang ngày càng mất uy tín, niềm tin trước các quốc gia bị lọt vào bẫy nợ ‘Vành đai – Con đường’. Trong bối cảnh này, việc đưa ‘tình huống’ tại vùng biển Bãi Tư Chính ra thảo luận tại HĐBA LHQ sẽ là một giải pháp đạt hiệu ứng rất đáng kể, làm chùn bước bá quyền của TQ xâm phạm biển đảo của Việt Nam do tạo sức ép của công luận quốc tế, khẳng định được vị thế chính nghĩa, hợp pháp và chính danh của Chính phủ Việt Nam trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam tại Biển Đông.

  12. Cuộc đấu tranh diệt trừ quốc nạn tham nhũng do TBT-Chủ tịch nước lãnh đạo đang mang lại niềm hy vọng của nhân dân đối với Đảng, Chính phủ trong quan hệ đối nội. Trên phương diện đối ngoại, Việt Nam đã rất kiềm chế, nhún nhường với TQ trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, thực tế cho thấy Việt Nam càng nhún nhường, thì TQ càng lấn tới, phủ nhận mọi cam kết đã đạt được theo Thỏa thuận cấp cao giữa lãnh đạo hai nước, thể hiện dã tâm nhất quản thôn tính biển đảo và lãnh thổ Việt Nam. Thực trạng này diến biến đã tới đỉnh điểm vượt quá sức chịu đựng của những người Việt Nam yêu nước. Do vậy, việc Chính phủ Việt Nam đưa ‘tình huống đe dọa hòa bình và an ninh khu vực’ tại vùng biển Bãi Tư Chính ra trước HĐBA LHQ chắc chắn sẽ mang lại niềm hy vọng cho Nhân dân về năng lực lãnh đạo của Đảng và Chính phủ trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia, bảo vệ quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam tại các vùng biển. Làm được như vậy, một lần nữa như bao lần trong suốt chiều dài hàng ngàn năm lịch sử của Việt Nam, TÍNH CHÍNH DANH VÀ SỰ THÀNH CÔNG CỦA NHỮNG NGƯỜI CẦM QUYỀN sẽ bền vững khi gắn kết được với LÒNG YÊU NƯỚC CỦA NGƯỜI DÂN.

Điều 51 Hiến chương LHQ

Không có một điều khoản nào trong Hiến chương này làm tổn hại đến quyền tự vệ cá nhân hay tập thể chính đáng trong trường hợp thành viên Liên hợp quốc bị tấn công vũ trang cho đến khi Hội đồng bảo an chưa áp dụng được những biện pháp cần thiết để duy trì hoà bình và an ninh quốc tế.

LS.TS. Hoàng Ngọc Giao

  • Xin chờ trong giây lát...