Nhân ngày Thương binh liệt sỹ 27-7

Chu Cẩm Phong với những tháng năm đẹp nhất của cuộc đời (phần II)

Cập nhật: 08:37 | 28/07/2019
Chu Cẩm Phong như được chắp ánh, lập tức cùng mấy anh chị em xuống các huyện. Theo Đoàn Xoa một người cùng cơ quan với anh kể lại: “Nhà văn trẻ Chu Cẩm Phong thích thâm nhập thực tế, hòa nhập với bà con, ít khi ngồi viết tại cơ quan.  
Chân dung Chu Cẩm Phong và bìa tác phẩm nhật ký chiến tranh

Từ khu về, anh chỉ gặp chúng tôi vài hôm rồi lại về huyện, anh thường đi với giao liên. Không bao giờ anh hỏi có ai đi cùng anh không? Ở chiến trường khu lâu ngày, nước da trắng xanh, lại hay hút thuốc rê. Nhưng anh đi rất khỏe, chẳng bao giờ than phiền điều gì ở địa phương sau những chuyến đi công tác”.

Chu Cẩm Phong, khi vào chiến trường B, đã về vùng Hội An, mảnh đất chôn rau cắt rốn, Sau đó về Duy Xuyên, Điện bàn... Dạo ấy, ở miền Trung, lính Nam Triều Tiên khét tiếng gian ác. Chúng càn quét ruồng bố dữ dội. Hãy đọc một đoạn thư của Dương Thị Xuân Quý viết cho Chu Cẩm Phong:

“Xuyên Trường 2-3-1969

Anh Tiến thân!

… Tôi định không lên Xuyên Phú. Nhưng ta đánh An Hòa như vậy mà mình ở cạnh, không lên thì vô lý quá. Tôi quyết định vượt đường lên. Tôi gặp anh Lộc, Thường vụ huyện ủy chỉ đạo 3 xã: Phú - Hòa - Thu (Xuyên Phú, Xuyên Hòa, Xuyên Thu). Tôi gặp đơn vị đánh xe nước và trung đội quyết thắng đánh An Hòa. Tôi đã thấy cứ điểm An Hòa và bộ đội công tác mở ra cửa Xuyên Phú. Vấn đề trong dân có nhiều khó khăn lắm - Tôi hợp được với cán bộ Xuyên Phú - ở đây, địch phản ứng gay gắt hơn. Nó lội vào vừa bắn cối, ca nông xung quanh và tàu rà phóng rốc két.

Tôi theo anh em chạy càn trong tình trạng đó - cũng hoảng anh Tiến ạ. Nhưng vui. Xuyên Phú - Xuyên Hòa đánh mìn đều giỏi. Hôm tôi vượt đường trở lại Xuyên Hòa, bị chốt ngay đường cái. Hai bên là Mỹ, mình chạy thục mạng khi có pháo sáng, lại nằm rạp xuống cỏ.”.

Chu Cẩm Phong qua lại Xuyên Phú nhiều lần, lấy tư liệu, viết cẩn thận. Anh gửi những bài ký cho báo và thỉnh thoảng gửi bài ra miền Bắc theo đường giao liên Nam - Bắc. Bài của anh được đăng trân trọng trên báo Văn nghệ và Văn nghệ Quân đội. Năm 1971, trong lúc quay lại Xuyên Phú, nghiền ngẫm lấy tài liệu sáng tác, anh đã ngã xuống bên bờ sông Thu Bồn. Nhà văn Nguyễn Chí Trung nhớ lại:

“Các đồng chí hy sinh, công việc của mỗi người thế là giang dở. Dương Thị Xuân Quý và Chu Cẩm Phong mới có mấy chuyện ngắn và một tập ký vội vàng. Nguyễn Mỹ, sau Cuộc chia ly màu đỏ, tập thơ dày về tình yêu và cuộc chiến đấu thời kỳ sau Xuân Mậu Thân chưa có thì giờ sửa lại. Ờ, ai đó nói rất đúng rằng: Tài năng nghệ thuật là một cái gì đó có tính chất đơn nhất. Người sáng tác văn học mất đi là mất chính họ, buồn vui và khát vọng của một tâm hồn đơn nhất mà cuộc sống đã gieo lên đấy những hạt giống, nảy mầm theo một dáng riêng chỉ riêng họ có, mãi mãi không bao giờ có lại”.

Đúng là như vậy, những trang viết của Chu Cẩm Phong, ấm áp, điềm đạm như con người anh, tính cách của anh. Anh sống nghiêm túc, viết nghiêm cẩn. Sau khi anh mất, bạn bè tập hợp di cảo, giữ gìn. trước khi hy sinh, anh mới in được một tập sách Mặt biển - mặt trận (1968). Mãi năm 1975 nhà xuất bản Thống Nhất mới in được tập Rét tháng riêng, gồm những chuyện và ký của anh.

Ảnh minh họa

Chu Cẩm Phong bước vào sáng tác văn học hơi muộn hơn rất nhiều người. Và trên con đường ấy, anh chỉ đi được có 4 năm. Những gì anh để lại gần như chỉ là một khả năng báo hiệu: Một tập truyện và ký sự khiêm tốn. Và những tài liệu ghi chép còn chứa đựng trong mươi tập nhật ký.

Chiến trường khu V với những năm gian khổ ác liệt, thời gian có thể dành sáng tác nào có bao nhiêu, ít vô cùng. Nhưng đọc anh, dù chỉ là đôi dòng bình dị, cũng khiến chúng ta suy nghĩ. Anh viết thận trọng. Anh đưa in còn thận trọng hơn. Rất nhiều bản thảo anh viết xong nhưng lại đắn đo rồi cất đi. Mãi sau khi anh hy sinh bạn bè mới tìm được.

Có những người tìm đến với sáng tác văn học nghệ thuật hình như là để bày tỏ sự tài hoa hay thông minh của mình. Chu Cẩm Phong với cuộc đời giản dị của anh không thuộc những người ấy. Anh đến với báo chí, với văn học, cũng như anh đến với đời sống, đến với cách mạng là để bày tỏ tình yêu. Một nhà văn nào đó đã nói tác phẩm là kết quả của tình yêu. Có lẽ anh đã chọn cho anh con đường giản dị song khó khăn ấy.

Có thể nhiều trang anh để lại chưa thật chín. Nhiều điều khiến anh không bằng lòng với chính bản thân mình. Nhưng anh chỉ viết từ những gì có thực. Ở anh, ta không bao giờ thấy những trang, những câu chữ quá văn chương như ta vẫn thường gặp ở một số tác giả trẻ. Có lẽ điều Chu Cẩm Phong mang lại cho người đọc trước nhất trên mỗi trang viết của mình chính là lòng tin. Tin vào những gì anh sống, anh trải qua. Tin vào những gì anh chắt lọc, đắn đo từng đêm trước ánh sáng ngọn lửa khi đặt bút.

Thuở còn là sinh viên, anh là niềm hy vọng của nhà trường, bởi ngày ấy cả miền Bắc nâng niu từng hạt giống nhỏ quý hiếm của miền Nam, là tương lai của miền Nam. Hơn thế nữa, anh là hạt giống đỏ. Trần Tiến là phó bí thư đoàn trường, là đảng viên rất trẻ, khi anh mới qua tuổi 20 và là một trong số ít sinh viên khóa học đó được giữ lại trường. nhưng anh đã chọn con đường “về Nam”.

Đó cũng là cách nói quen thuộc của anh ngày đó. Với chúng tôi, thường sính dùng những lời nghe có vẻ khỏe khoắn: “Vào chiến trường”, “đi B”. Nhưng với Trần Tiến, thật đơn giản: Về Nam. Anh về quê hương máu thịt của mình.

Những năm 1965, 1966, 1967 thật sôi động. Vùng giải phóng đã mở rộng xuống nhiều tỉnh đồng bằng. Trong tiểu thuyết Mẫn và Tôi, Phan Tứ đã mô tả khá đậm những năm tháng sôi động ấy. Trần Tiến đã kịp vào hít thở không khí sôi sục của miền Nam, quê hương anh. Đó cũng là bước chuẩn bị cho một Mậu Thân sắp bùng nổ.

Nhưng chiến trường không chỉ sôi sục và hừng hực khí thế tiến công. Cách mạng có lúc dâng đầy và cũng nhiều phen lận đận, chống chọi giành giật với địch từng tấc đất, giành giật từng người dân. Căn cứ có khi co lại ở vùng núi cao, lưa thưa một vài nóc nhà đồng bào dân tộc ít người, không gạo, không bắp, không mì. Ngày qua ngày, chỉ có rau dớn (một loại rễ cây họ dương xỉ), môn thục lót lòng. Theo những người bạn thân thiết của anh, Cao Duy Thảo và Thanh Quế, mỗi lần nghĩ về anh thường kể lại từng mẩu đời Trần Tiến:

- Trần Tiến đã đem bán một chỉ vàng mẹ anh từ Hội An nhờ người liên lạc gửi lên cho để mua một cái rìu đốn cây, phát rẫy. Trần Tiến gầy nhưng sức dẻo và bền như một dây thép bện. Anh quần với những cây cổ thụ dễ tới hai vòng tay ôm. Anh chặt ngày này sang ngày khác cho tới khi cây đổ. Có những cây phải mất tới hai, ba ngày đốn liên tục. Khi cơn sốt kéo đến, anh buông rìu, mắc võng nằm tạm. Dứt cơn lại đốn tiếp.

Khi hoàng hôn xuống nhanh giữa hai triền núi, người ta thấy một người đứng trên dàn giáo đốn cây cần mẫn, từng nhát, từng nhát bổ xuống đều đặn. Khu rừng già Nước Nghêu dội lại từng tiếng như tiếng chiêng, tiếng cồng vang xa. Ấy là nhát rìu của Trần Tiến đấy.

Nhưng, chính những ngày cam go đó, Trần Tiến không quên cây bút, bởi anh vào chiến trường với tư cách là phóng viên mặt trận. Những bài bút ký hôi hổi cuộc sống chiến trường được anh viết trong những điều kiện ngặt nghèo của chiến tranh.

Thay vào những giây phút hiếm hoi kiếm tìm câu chữ, sắp xếp bố cục, Trần Tiến cần mẫn quan sát, ghi chép và trên hết, anh có một tấm lòng trân trọng con người, trân trọng từng sự kiện nhân dân tạo nên. Anh chia sẻ máu thịt với những hy sinh, mất mát của nhân dân, bởi thế, những tác phẩm đầu tay của anh đã gây được niềm xúc động sâu xa.

Với bút danh Chu Cẩm Phong, anh viết Rét tháng giêng, Làng Tà Riềng, Người giữ ruộng trên núi Kong Dinh, Gió lộng từ Cửa Đại, Mặt biển, mặt trận, v.v. Cuộc sống sôi động Mậu Thân, nơi anh có mặt là Hòa Hải, Hòa Vang tỉnh Quảng Đà, những cảm nhận Tây Nguyên, nơi anh sống nhiều ở Kon Tum, những con người miền Tây Quảng Nam là chất liệu sống cho những sáng tác của mình.

Trần Tiến - Chu Cẩm Phong là người đặc biệt ham học và thâm nhập cuộc sống kỹ càng, tìm hiểu con người ở nhiều vùng đất khác nhau. Bởi thế, anh khá thành thạo tiếng nói nhiều dân tộc vùng núi Quảng Nam, Kon Tum. Những lúc nghỉ lại trong noóc đồng bào, anh là người “phiên dịch”.

Và vì biết tiếng, gần gũi với dân nên những khi đi đổi sắn, đổi bắp cho đồng bào, anh có nhiều lợi thế. Mỗi khi anh em vào những noóc quen biết, người già, người trẻ thường hỏi thăm “anh Tiến của mình sao không thấy. Mình gửi anh Tiến mình mấy bắp to”.

Về Nam đã ba, bốn năm, mấy lần muốn tìm về Hội An, thành phố cổ tận miệt biển để tìm mẹ, nhưng Trần Tiến không may mắn. Má anh là cơ sở cách mạng nội thành, biết tin con trai từ Bắc đã trở về nhưng cũng tìm riết, tìm hoài, hai má con không sao gặp nhau được lấy một lần. Cho đến lúc hy sinh, niềm khao khát gặp má của anh cũng không sao thực hiện được.

Tháng 5 năm 1971, trên đường vào chiến trường, chúng tôi dừng lại ở trạm 157. Địch càn lên căn cứ. Cơ quan đã chuyển. Giao liên các tuyến đang chắp nối lại liên lạc. Cũng trong cái đêm đầy âu lo đó, chúng tôi được tin Chu Cẩm Phong hy sinh. Chúng tôi ngồi lặng trên võng hồi lâu, vậy là hy vọng được gặp lại người bạn, người anh, không bao giờ có nữa.

Sau này đọc nhật ký của anh chúng tôi mới cảm hết sự quyết liệt, gian nguy của cuộc chiến ở Quảng Đà. Từng ngày, từng đêm căng thẳng. Càn quét, pháo bầy, B52, biệt kích rình rập... Trang nhật ký cuối cùng dừng lại ở ngày 27 tháng 4 năm 1971. Chu Cẩm Phong vừa tròn 30 tuổi. Cuốn nhật ký nhỏ mảnh đạn xé rách mảng bìa như còn hơi ấm bàn tay anh.

Sau khi đất nước giải phóng, chúng tôi có dịp về Hội An, thăm ngôi nhà thân thuộc của Trần Tiến, nơi từ đây anh đã ba lô theo các chú bộ đội tập kết ra Bắc. Đường Hội An sao mà gần gũi. Phố xá như những người thân. Hỏi về Trần Tiến, dân Hội An như thể đã gặp, đã cùng chung sống với anh thân thiết đến kỳ lạ.

Bởi thế, lần đầu thăm, chúng tôi đã đến được ngay ngôi nhà tuổi thơ của anh. Cũng sau ngày giải phóng, chúng tôi đã tới nơi anh hy sinh ở Duy Hóa, huyện Duy Xuyên. Nhiều ngày sau đó bạn bè tìm mộ anh theo lời chỉ dẫn của dân làng. Nhưng người tìm thấy, sau nhiều lần tìm kiếm vất vả lại là má anh. Má thắp 3 cây nhang khấn vái thì thầm xong, má phun rượu một vòng xung quanh.

Bỗng một nấm mộ hiện ra, bên cạnh nơi bạn bè và dân làng đào kiếm suốt một ngày. Những nhát cuốc cẩn thận đào quanh nấm mồ, đào dần xuống và lúc sau một mảnh dù hiện ra. Người mẹ nhận ra ngay tấm dù chính mẹ đã gửi lên căn cứ cho anh hồi nào. Tất cả ngồi thụp xuống quanh má. Giây phút ấy như nghe có tiếng nói đâu đó của Tiến.

Lúc còn sống, Trần Tiến không mấy khi hài lòng với những gì mình viết ra. Đã có lần, biết nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu ra Bắc, anh thức suốt đêm để hoàn thiện ít trang viết, kịp gửi ra. Nhưng tới khi chia tay nhạc sĩ, anh lại bỏ ý định đó. Anh nói với bạn bè: - Chưa thật sướng lắm. Phải có thêm ít thời gian.

Chàng trai trần Tiến (Chu Cẩm Phong) nổi tiếng hào hoa và học giỏi của trường đại học Tổng hợp Hà Nội

Nhưng chiến tranh, lấy đâu nhiều thời gian. Tất cả đều vội vàng, hối thúc, gấp gáp. Song trong một số truyện và ký ít ỏi anh để lại, Chu Cẩm Phong thích nhất Rét tháng giêng. Truyện kể về một cô gái người Ka Dong bị địch chặt đứt mười ngón chân mà không khai một lời. Lớn lên, cô đi bằng đôi chân chỉ còn một nửa đó để gùi cõng, tham gia cách mạng, truy lùng biệt kích. Cho tới 1985, Nhà xuất bản Tác phẩm mới phối hợp với Hội Văn nghệ Quảng Nam Đà Nẵng tập hợp những trang viết của anh rồi in trong tập Rét tháng giêng, một phần cuộc đời Chu Cẩm Phong gửi lại.

Người ta vẫn biết một nhà văn Chu Cẩm Phong, nhưng có lẽ không mấy ai nghĩ rằng khi lên đường về Nam, Trần Tiến - Chu Cẩm Phong đã từ trụ sở số 5, Lý Thường Kiệt mà lên đường. Anh có mặt trong số những phóng viên VNTTX lớp trước, sớm vào chiến trường B.

Lớp đàn anh những năm 1962 - 1965 đã đi trước, xẻ dọc Trường Sơn để sau này, một đội ngũ phóng viên đông đảo theo bước các anh vào chiến trường Trị Thiên - Huế, Khu 5, Cực Nam - Khu 6, miền Đông, miền Tây Nam Bộ. Nhiều người đã sống xứng đáng và trở về trong niềm kiêu hãnh và không ít những người gửi lại tuổi trẻ ở chiến trường. Trong số đó có một người phóng viên TTXGP Trần Tiến - nhà văn Chu Cẩm Phong, người luôn sống trong lòng bạn đọc.

H P T

  • Xin chờ trong giây lát...