Vĩnh Phúc: Chuyển đổi rừng phòng hộ tại Núi Ngang Tam Đảo – Phát biểu từ cơ quan chuyên môn

Cập nhật: 15:08 | 12/10/2017
Diện tích rừng PH núi Ngang, xã Bồ Lý đủ điều kiện và đáp ứng đầy đủ các tiêu chí để chuyển đổi sang quy hoạch phát triển rừng sản xuất theo quyết định số 845/QĐ-BNN-TCLN ngày 16/3/2016 của Bộ NN&PTNT.
vinh phuc chuyen doi rung phong ho tai nui ngang tam dao phat bieu tu co quan chuyen mon

LTS: Trước nhiều luồng dư luận trên các phương tiện thông tin truyền thông, mạng xã hội, suy diễn, bình luận phức tạp về Dự án công viên Nghĩa trang tại Xã Bồ Lý, Huyện Tam Đảo Tỉnh Vĩnh Phúc, Phóng viên Báo điện Tử Tầm Nhìn đã có buổi làm việc, phỏng vấn Thạc sỹ Phạm Anh Tuấn – Phó trưởng phòng kế hoạch - kỹ thuật rừng phân viện Tây bắc.

Phóng viên: Thưa Thạc sỹ Phạm Anh Tuấn, khoản 1 Điều 2 quyết định 845QD-BNN-TCLN có ghi rõ việc tổ chức thực hiện giao Viện Điều tra, Quy hoạch rừng: xây dựng biện pháp kỹ thuật, chuẩn bị cơ sở dữ liệu khung và hướng dẫn các tỉnh thực hiện rà soát chuyển đổi một phân diện tích quy hoạch rừng phòng hộ đầu nguồn ít xung yếu sang quy hoạch phát triển rừng sản xuất gắn rà soát quy hoạch ba loại rừng; Viện đã thực hiện công việc trên như thế nào tại các địa bàn nào?

Thạc sỹ Phạm Anh Tuấn: Thực hiện chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện đã xây dựng hướng dẫn kỹ thuật RÀ SOÁT DIỆN TÍCH QUY HOẠCH ĐẤT RỪNG PHÒNG HỘ ĐẦU NGUỒN ÍT XUNG YẾU CHUYỂN SANG QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN RỪNG SẢN XUẤT và được ban hành tại công văn số 10121/BNN-TCLN ngày 30 /11/2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Chuẩn bị cơ sở dữ liệu khung và hướng dẫn các tỉnh thực hiện rà soát chuyển đổi một phân diện tích quy hoạch rừng phòng hộ đầu nguồn ít xung yếu sang quy hoạch phát triển rừng sản xuất gắn rà soát quy hoạch ba loại rừng.

Sau khi ban hành, các địa phương đã lập kế hoạch và tổ chức triển khai “Rà soát điều chỉnh đất, rừng phòng hộ đầu nguồn ít xung yếu sang quy hoạch phát triển rừng sản xuất gắn với điều chỉnh quy hoạch ba loại rừng”, các đơn vị trực thuộc Viện đã phối hợp (tư vấn) cho các địa phương triển khai như ở tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Phú Yên, Phú Thọ, Vĩnh Phúc…

vinh phuc chuyen doi rung phong ho tai nui ngang tam dao phat bieu tu co quan chuyen mon

PV: Tiêu chí nào cho việc chuyển đổi?

Thạc sỹ Phạm Anh Tuấn: Theo tiêu chí rà soát theo quyết định số 845/QĐ-BNN-TCLN thì:

.1. Điều kiện tự nhiên:

- Độ cao tuyệt đối dưới 700 mét đối với vùng đồi, núi; dưới 1.000 mét đối với vùng núi cao.

- Lượng mưa trên 1.000 mi li mét một năm.

- Độ dốc dưới 25 độ.

- Thành phần cơ giới là đất thịt, đất cát pha có độ dày tầng đất trên 50cm.

2. Trạng thái chuyển đổi đối với rừng tự nhiên nghèo kiệt:

- Rừng gỗ lá rộng thường xanh và nửa rụng lá nghèo kiệt: số lượng cây gỗ tái sinh mục đích có chiều cao vút ngọn từ 01 mét trở lên dưới 800 cây/hecta, phân bố không đều trên diện tích một lô rừng, trữ lượng gỗ của tất cả các cây có đường kính tại vị trí 1,3 mét trên mặt đất từ 08 cen-ti-mét trở lên dưới 50 m3/hecta trong một lô rừng.

- Rừng gỗ lá rộng rụng lá theo mùa nghèo kiệt: số lượng cây gỗ tái sinh mục đích có chiều cao vút ngọn từ 01 mét trở lên dưới 700 cây/hecta, phân bố không đều (đối với tái sinh chồi từ một gốc cây mẹ có nhiều chồi chỉ tính 01 chồi tái sinh tốt nhất) trên một lô rừng, trữ lượng gỗ của tất cả các cây có đường kính tại vị trí 1,3 mét trên mặt đất từ 8 cen-ti-mét trở lên dưới 40 m3/hecta trong một lô rừng.

- Rừng lá kim nghèo kiệt: số cây có đường kính bình quân tại vị trí 1,3 mét trên mặt đất từ 08 cen-ti-mét trở lên dưới 80 cây/hecta, phân bố không đều trên diện tích một lô rừng.

- Rừng tre nứa nghèo kiệt: số cây có đường kính tại vị trí 1,3 mét trên mặt đất từ 05 cen-ti-mét trở lên dưới 3.000 cây/hecta trong một lô rừng, trường hợp lô rừng chỉ có tre nứa đường kính nhỏ hơn 05 cen-ti-mét thì không phụ thuộc vào mật độ.

- Rừng hỗn loài tre nứa và gỗ nghèo kiệt: trữ lượng gỗ của tất cả các cây có đường kính tại vị trí 1,3 mét trên mặt đất từ 08 cen-ti-mét trở lên dưới 25 m3/hecta trong một lô rừng, số cây tre nứa có đường kính tại vị trí 1,3 mét trên mặt đất từ 05 cen-ti-mét trở lên dưới 1.500 cây/hecta trong một lô rừng.

3. Khu vực chuyển đổi:

- Là diện tích liền kề với rừng sản xuất; nơi thuận lợi để tổ chức sản xuất.

- Đối với diện tích nằm trọn trong khu vực phòng hộ đầu nguồn thì quy mô đất, rừng phòng hộ chuyển đổi có diện tích tối thiểu là 50 ha.

- Không chuyển đổi diện tích liền kề các sông lớn, hồ, đập thủy lợi, thủy điện, các đường giao thông quan trọng.

4. Diện tích chuyển đổi: phải có phương án sử dụng đất, kế hoạch giao đất, cho thuê đất cụ thể, phù hợp với kế hoạch sử dụng đất 2016-2020.

PV: Thưa ông, việc chuyển đổi như vậy có ảnh hưởng đến môi trường, dân sinh…?

Thạc sỹ Phạm Anh Tuấn: Trước tiên phải nói về chủ trương thì theo Nghị quyết số 134/2016/QH13, đất lâm nghiệp năm 2015 là 15.709.150 ha, chia ra: (i) đất rừng phòng hộ là 5.648.990 ha, (ii) đất rừng đặc dụng là 2.210.250 ha và (iii) đất rừng sản xuất là 7.849.910 ha; Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, đất rừng phòng hộ là 4.618.440 ha (giảm 1.030.550 ha), (ii) đất rừng đặc dụng là 2.358.870 (tăng 148.620 ha) và (iii) đất rừng sản xuất là 9.267.940 ha (tăng 1.418.030 ha); tổng diện tích cần phải quy hoạch bổ sung là 536.100 ha. Do đó, việc rà soát điều chỉnh đất, rừng phòng hộ đầu nguồn ít xung yếu sang quy hoạch phát triển rừng sản xuất gắn với điều chỉnh quy hoạch ba loại rừng nhằm phát huy hiệu quả sử dụng đất, thực hiện mục tiêu tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp là rất cần thiết.

Thứ nữa là phải nói đến ý nghĩa, tác dụng của rừng PH đầu nguồn: Rừng phòng hộ đầu nguồn nhằm tăng cường khả năng điều tiết nguồn nước cho các dòng chảy, các hồ chứa nước để hạn chế lũ lụt, giảm xói mòn, bảo vệ đất, hạn chế bồi lấp các lòng sông, lòng hồ.

Tiêu chí phân chia các cấp phòng hộ (Rất xung yếu, xung yếu và ít xung yếu) gồm: Lượng mưa (lượng và độ tập trung), đất (loại đất, độ dày tầng đất), độ dốc, độ cao địa hình, quy mô diện tích (đơn vị là khoảnh ≈100ha) - ban hành kèm theo Quyết định số 61/2005/QĐ-BNN ngày 12/10/2005 của Bộ Nông nghiệp và PTNT.

Dựa trên các tiêu chí khoa học kể trên và thực tiễn tại địa phương để phân 3 cấp phòng hộ đầu nguồn: Rất xung yếu, xung yếu và ít xung yếu, trong đó rừng phòng hộ ít xung yếu đa phần được qui hoạch cho hệ thống rừng sản xuất.

Ngoài việc xác định diện tích rừng phòng hộ căn cứ vào các tiêu chí trên, trong quá trình xây dựng cần:

+ Ưu tiên phòng hộ các công trình thuỷ điện, hồ đập thuỷ lợi.

+ Đối với các diện tích ở ven hai bên bờ sông, nhánh sông, suối chính hoặc ven hồ, ven đập; mức độ xung yếu của các khu này sẽ được tăng lên một cấp (có nghĩa là diện tích ít xung yếu sẽ trở thành xung yếu và xung yếu sẽ thành rất xung yếu).

+ Đối với các diện tích liền kề với các công trình trọng điểm, các thành phố, thị xã, thị trấn, đường giao thông miền núi v.v., mức độ xung yếu của các diện tích đó cũng sẽ được tăng lên một cấp.

Do đó, việc chuyển đổi rừng phòng hộ ít xung yếu sang QH hệ thống rừng sản xuất theo tiêu chí khoa học và thực tiễn sẽ tăng diện tích đất sản xuất, phát huy hiệu quả sử dụng đất, tạo nhiều sản phẩm cho xã hội cũng như công ăn việc làm, góp phần phát triển kinh tế xã hội địa phương.

Rừng SX cũng có ý nghĩa phòng hộ môi trường, hạn chế xói mòn đất và điều tiết dòng chảy …nên việc chuyển đổi rừng phòng hộ ít xung yếu sang quy hoạch phát triển rừng sản xuất sẽ ko ảnh hưởng đến môi trường sinh thái của địa phương.

PV: Thưa ông, dư luận gần đây có nhiều ý kiến trái chiều về vấn đề Xây dựng công viên nghĩa Trang trên diện tích rừng PH tại tỉnh Vĩnh Phúc, theo ông với tiêu chí rà soát ban hành theo quyết định số 845/QĐ-BNN-TCLN ngày 16/3/2016 thì diện tích rừng hòng hộ núi Ngang có để điều kiện được chuyển đổi sang qui hoạch rừng sản xuất?

vinh phuc chuyen doi rung phong ho tai nui ngang tam dao phat bieu tu co quan chuyen mon
Núi ngang có độ cao < 220m, độ dốc<20%, rừng tròng keo, bạch đàn lưa thưa

Thạc sỹ Phạm Anh Tuấn: Việc rừng PH núi Ngang (xã Bồ Lý) có được chuyển đổi sang quy hoạch rừng sản xuất không thì chúng ta phải xem xét khu rừng đó có đủ điều kiện, đáp ứng các tiêu chí rà soát ban hành theo Quyết định số 845/QĐ-BNN-TCLN của Bộ NN&PTNT.

Xét về tiêu chí độ cao: Đỉnh cao nhất của núi Ngang cao khoảng 220mXét về tiêu chí độ dốc: Độ dốc địa hình trung bình 200 (độ dốc khu vực chân núi khoảng 150, sườn núi từ 16-200 và phần đỉnh núi có độ dốc từ 20 -250)Về tiêu chí Lượng mưa và thời gian mưa tập trung: Theo tài liệu điều tra của trạm khí tượng thủy văn đặt tại thị xã Vĩnh Yên và thị trấn Tam Đảo, lượng mưa trung bình hàng năm ở huyện Tam Đảo là 1.567 mm, lượng mưa tập trung chủ yếu từ tháng 6 đến tháng 8 trong năm. Lượng mưa không đồng đều giữa các xã trong huyện, lượng mưa cao nhất là 2.157 mm (khu vực đai cao của núi Tam Đảo vì ở đây có thêm lượng mưa địa hình), thấp nhất là 1.060 mm (ở các xã vùng thấp như Bồ Lý, Minh Quang, Tam Quan…).Tiêu chí độ dày tầng đất: theo kết quả điều tra lập địa của các nhà nghiên cứu, đất khu vực núi Ngang là Ðất xám Feralit phát triển trên đá macma axit (Xfa)-Ferralic Acrisols (đá mẹ: chủ yếu là granit, riolit, phoocphia thạch anh). Đất có thành phần cơ giới nhẹ (thịt nhẹ), hàm lượng mùn thấp, tầng đất dày từ 60-120 cm.Tiêu chí về hiện trạng sử dụng đất và khu vực chuyển đổi: toàn bộ diện tích rừng Ph núi Ngang là rừng trồng Keo và Bạch đàn, khu vực chuyển đổi gần với các khu rừng sản xuất phía xã Đạo Trù, xã Đại ĐìnhNhư vậy, diện tích rừng PH núi Ngang, xã Bồ Lý đủ điều kiện và đáp ứng đầy đủ các tiêu chí để chuyển đổi sang QH phát triển rừng sản xuất theo quyết định số 845/QĐ-BNN-TCLN ngày 16/3/2016 của Bộ NN&PTNT.

Xin cảm ơn ông!