Từ đạo hiếu truyền thống, nghĩ về đạo hiếu ngày nay (phần II)

Cập nhật: 07:02 | 06/12/2018
Nho giáo cũng cho rằng, những người con có hiếu còn là những người biết tiếp nối cái chí của cha mẹ, biết noi gương cha mẹ, biết phân biệt tốt xấu để theo cái hay, tránh cái dở.  
tu dao hieu truyen thong nghi ve dao hieu ngay nay phan ii
Ảnh minh họa

Khổng Tử nói: “Xét người con thì khi cha còn sống, xem chí hướng của người ấy, khi cha chết thì xem hành vi của người ấy. Ba năm không thay đổi so với đạo của cha, thì có thể gọi là hiếu vậy”.

Dạy về hiếu, Khổng Tử cho rằng phải giữ đạo trung dung. Theo Khổng Tử, việc thờ cha mẹ không phải là cái lẽ cuối cùng của sự hiếu, mà cái lẽ cuối cùng của sự hiếu là lấy hiếu gây thành đạo nhân, vì người có hiếu tức là có nhân. Nhân với hiếu thường đi cùng nhau, nên những người có địa vị trọng yếu trong xã hội phải là những người rất chú ý về đạo hiếu: “Người quân tử ngồi ở trên mà trọn đạo với cha mẹ, thì dân chúng sẽ hướng về “nhân”; người ở ngôi trên không bỏ rơi bạn bè xưa cũ, thì dân chúng sẽ không ăn ở bạc bẽo lạnh lùng”.

Người quân tử ở đây là những người có quyền hành, có địa vị, làm gương cho dân chúng. Những người ấy mà bất hiếu, tình cảm đơn bạc thì không thể khiến cho người dân có nhân,nghĩa, có tình cảm được. Vậy nên, Tăng Tử mới nói rằng: “Thận chung, truy viễn, dân đức quy hậu hỹ” (nghĩa là: Người trên mà thận trọng trong tang lễ cha mẹ và lo tế tự tổ tiên các đời trước, thì đạo đức của dân chúng sẽ quy về trung hậu”.

Như vậy, về cơ bản, nội dung phạm trù hiếu mang một ý nghĩa tích cực, bắt nguồn từ tình cảm xa xưa, đó là phận làm con phải có hiếu với cha mẹ. Đây cũng là tình cảm và yêu cầu đạo đức có ý nghĩa phổ biến phù hợp với mọi dân tộc, trước hết là các dân tộc phương Đông, trong đó có Việt Nam. Lịch sử dân tộc Việt Nam đã ghi lại biết bao tấm gương hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ.

Trong việc thực hành đạo hiếu, người Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo. Tuy vậy, đạo hiếu ở Việt Nam vẫn có những nét độc đáo riêng, không hà khắc và cứng nhắc như trong quan niệm của Nho giáo. Ngay cả những người thuộc tầng lớp trên, được đào tạo theo tư tưởng Nho giáo một cách đầy đủ, họ cũng tiếp biến đạo hiếu, biến đạo hiếu trở thành giá trị và chuẩn mực đạo đức mang bản sắc Việt Nam. Chẳng hạn, dưới triều Trần, trước khi lâm chung, Trần Liễu dặn con phải báo thù cho ông.

Tuy vậy, Trần Quốc Tuấn đã bỏ đi hiềm khích riêng, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, không nghe lời cha, giữ hoà khí với Trần Quang Khải, anh em đồng lòng đánh thắng giặc Nguyên - Mông, báo hiếu cho xã tắc. Vào thời Minh xâm lược, Nguyễn Phi Khanh bị bắt đưa về phương Bắc, Nguyễn Trãi đã theo khóc đến tận ải Nam Quan. Nguyễn Phi Khanh nói: “Con phải trở về mà lo báo thù cho cha, rửa thẹn cho nước, chứ đi theo khóc lóc mà làm gì.

Vâng lời cha, Nguyễn Trãi trở về, ngày đêm lo việc phục thù, bày kế giúp Bình Định Vương Lê Lợi đánh thắng quân xâm lược. Dưới thời Nguyễn, Phan Bội Châu nuôi chí lớn của cha, gắng sức học tập, thi đỗ Giải nguyên để người cha đang hấp hối trên gường bệnh được yên lòng nhắm mắt ra đi. Ông còn mở rộng đạo hiếu với cha ra đạo hiếu đối với dân tộc, giống nòi, hoạt động cách mạng và trở thành nhà chí sĩ yêu nước nổi tiếng đầu thế kỷ XX.

Trong dân gian, đạo hiếu được thể hiện ngay trong những lời ru từ khi con người mới sinh ra, còn nằm trong nôi: Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra/ Một lòng thờ mẹ kính cha/ Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

Nội dung chữ hiếu trong dân gian đơn giản, thiết thực, bất kỳ ai cũng có thể thực hiện được, chỉ cần có tấm lòng hiếu thảo thực tâm. Đó là sự quan tâm, chăm sóc, cầu mong cha mẹ an vui, khoẻ mạnh, sống lâu. Đó cũng là những cố gắng gìn giữ, phát huy nền nếp gia phong, là sự biết ơn ông bà tổ tiên và sự chăm sóc các thế hệ sau…

tu dao hieu truyen thong nghi ve dao hieu ngay nay phan ii
Ảnh minh họa

Truyền thống giữ đạo hiếu của dân tộc được kế thừa và nâng cao trong tư tưởng và nhân cách Hồ Chí Minh. Trunghiếu là hai phạm trù đạo đức được Hồ Chí Minh sử dụng cặp đôi với nhau và coi như chuẩn mực cao nhất trong hành vi của con người: “Trung với nước, hiếu với dân”. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, phạm trù hiếu không còn bó hẹp trong phạm vi trọn đạo làm con với cha mẹ mình, mà mở rộng ra là hiếu thảo với nhân dân, vì nhân dân mà phục vụ.

Không chỉ thương yêu cha mẹ mình mà còn phải thương yêu cha mẹ người. Người khẳng định: “Người kiên quyết cách mạng nhất lại là người đa tình chí hiếu nhất. Vì sao? Nếu không làm cách mạng thì chẳng những bố mẹ mình mà hàng triệu bố mẹ người khác cũng bị đế quốc, phong kiến dày vò. Mình không những cứu bố mẹ mình mà còn cứu bố mẹ người khác, bố mẹ của cả nước nữa”.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, hiếu với dân là làm đầy tớ của dân, là lấy dân làm gốc. Xưa Mạnh Tử nói: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (dân là quý hơn hết, kế đó là xã tắc, vua là nhẹ). Phát huy mặt tích cực của tư tưởng đạo hiếu lấy dân làm gốc trong Nho giáo xưa, Hồ Chí Minh không đặt mình ở vị trí cao hơn dân, ở ngoài dân.

Không chỉ xem dân là quý, là gốc, là sức mạnh, mà Người luôn đặt mình trong dân, là đầy tớ của dân, coi lợi ích của dân là tất cả sự nghiệp của mình, là mục tiêu của cách mạng. “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Bằng cách diễn đạt khác, Người đã đặt nhân dân từ vị trí phụ thuộc vua chúa, quan lại phong kiến lên địa vị người chủ.

Ths Nguyễn Thị Thọ