Trăn trở cho đổi mới giáo dục đại học Việt Nam (tiếp)

Cập nhật: 09:34 | 24/05/2017
Ngoài những bất cập về số lượng và chất lượng như đã trình bày, chúng ta còn thấy nhiều bất cập khác của giáo dục đại học Việt Nam.
tran tro cho doi moi giao duc dai hoc viet nam tiep
 Trường Đại học Korea - Đại học Hàn Quốc

Một nghiên cứu mới đây do Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh thực hiện cho thấy cóđến 50% sinh viên tốt nghiệp không đáp ứng các yêu cầu chuyên môn và phải đào tạo lại (Nguyễn Văn Tuấn, tài liệu đã dẫn).

Ngoài những bất cập về số lượng và chất lượng như đã trình bày, chúng ta còn thấy nhiều bất cập khác của giáo dục đại học Việt Nam. Những bất cập, yếu kém này cũng đãđược trình bày rất rõ trong Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, trong đó có giáo dụcđại học, cụ thể:

a) Chất lượng giáo dục nói chung còn thấp, một mặt chưa tiếp cận được với trình độ tiêntiến trong khu vực và trên thế giới, mặt khác chưa đáp ứng với các ngành nghề trong xã hội

b) Hiệu quả hoạt động giáo dục chưa cao. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo còn thấp: còn nhiềuhọc sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp chưa có việc làm.

c) Cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền đã được khắc phục một bước song vẫn còn mất cân đối.

d) Đội ngũ nhà giáo thiếu về số lượng và nhìn chung thấp về chất lượng.

e) Cơ sở vật chất của nhà trường còn thiếu thốn. Chưa thanh toán hết các lớp học 3 ca.

f) Chương trình, giáo trình, phương pháp giáo dục chậm đổi mới, chậm hiện đại hóa.

g) Công tác quản lý giáo dục còn kém hiệu quả. (Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010,trong Giáo dục đại học Việt Nam thời hội nhập, tr. 45) Như vậy, tuy giáo dục đại học Việt Nam đã có những biến chuyển, song với tốc độcòn quá chậm so với tiến trình đổi mới của đất nước, không theo kịp tốc độ phát triển củakinh tế xã hội, chưa đáp ứng được nhu cầu học tập của nhân dân.

Cả ở khía cạnh số lượng,chất lượng, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, giáo trình, chương trình và công tác quản lýđều còn quá nhiều bất cập.Vì thế, yêu cầu đổi mới toàn diện về giáo dục đại học Việt Namlà hết sức cần thiết.Mặt khác, khi Việt Nam đã chính thức trở thành viên của tổ chức

Thương mại Thế giới(WTO), vấn đề hội nhập của giáo dục đại học lại được đặt ra tranh luận sôi nổi. Cam kết củachính phủ Việt Nam thực hiện GATS trong lĩnh vực giáo dục đã đặt giáo dục đại học trước những thách thức cực kỳ to lớn. Giáo dục là một dạng dịch vụ thương mại, đặc biệt là giáo dục đại học được coi là lĩnh vực dịch vụ mở được cửa rộng nhất.

Với tư cách là nước đi sau trong việc gia nhập WTO, Việt Nam phải chịu sức ép lớn hơn về cam kết trong lĩnh vựcgiáo dục. Trên thực tế, khi đưa ra bản chào dịch vụ đa phương, mức cam kết của Việt Namvề dịch vụ giáo dục là khá sâu rộng đối với giáo dục đại học.

Theo đó, chúng ta mở cửa đối với hầu hết các lĩnh vực khoa học tự nhiên, kỹ thuật, nghiên cứu và quản lý doanh nghiệp,kinh tế, kế toán, ngôn ngữ và luật quốc tế.

Thực hiện các cam kết về GATS trong lĩnh vực giáo dục đại học giúp cho chúng ta có thêm nguồn vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời thu hút được tiềm năng chất xám, chuyển giao công nghệ, tạo môi trường cạnh tranh…, song nếu không quyết tâm đổi mới để thích ứng, để phát triển thì “giáo dục đại học sẽ không đủ sức cạnh tranh, bản sắc văn hóa dân tộc và những giátrị văn hóa truyền thống sẽ bị phai nhạt, tình trạng thất thoát chất xám ngày càng trầm trọng,quyền lợi người học sẽ bị xâm hại, khoảng cách giữa Việt Nam với các nước phát triển sẽ ngày càng gia tăng”(Duy Tuấn, Đổi mới giáo dục đại học là cần thiết, trong trong Giáo dục đại học Việt Nam thời hội nhập, tr. 72).

Chính phủ chọn giáo dục đại học là lĩnh vực ưu tiên đầu tư vì đây là lĩnh vực chúng ta có thể giải quyết được nhiều vấn đề quốc gia về mặt giáodục. Có cán bộ quản lý giáo dục còn so sánh khi các cam kết về GATS trong lĩnh vực giáodục được thực hiện, nếu chúng ta không có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, không đổi mới kịp thời,thì sẽ rất dễ bị các nước trong WTO cuốn bay.

Thực tế, các nhà đầu tư nước ngoài coi thịtrường giáo dục đại học Việt Nam là thị trường giàu tiềm năng vì các trường đại học nước tahiện nay cũng như trong tương lai gần hoàn toàn không đủ khả năng đáp ứng yêu cầu củangười học và khả năng nâng cao chất lượng giáo dục.

Hơn nữa, cũng trong điều kiện mở cửa và hội nhập một cách sâu rộng với thế giới trong lĩnh vực giáo dục đại học như hiện nay, chúng ta không thể cứ để “cỗ máy” giáo dụcvận hành theo những quy tắc cũ kỹ, lạc hậu được thiết lập từ những năm 80 của thế kỷ trước. Rõ ràng để giáo dục đại học cất cánh, phát triển thuận lợi, nhanh chóng hội nhập vớigiáo dục đại học tiên tiến trên thế giới, chúng ta cần đổi mới một cách sâu rộng giáo dục đạihọc nước nhà và trước hết cũng cần có một cái nhìn mới đối với triết lý giáo dục đại học.

Còn tiếp