Tháo gỡ nút thắt logistics

Cập nhật: 15:43 | 11/07/2018
Theo xếp hạng chỉ số năng lực quốc gia về logistics (LPI) của Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam đang đứng thứ 64 trong số 160 nước và đứng thứ 4 trong ASEAN (sau Singapore, Malaysia, Thái-lan), với chi phí logistics ước tính khoảng 25% GDP hằng năm, cao hơn đáng kể so với Thái-lan (19%) và Singapore (8%), còn ở Mỹ chiếm 9,5% GDP, Nhật Bản là 11% GDP, Hàn Quốc 16%, Trung Quốc 21,6%.

Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), chi phí vận chuyển cho một container hàng từ cảng Hải Phòng về Hà Nội hay ở chiều ngược lại (khoảng 100 km), đắt gấp ba lần so với chi phí vận chuyển một container hàng từ Trung Quốc và Hàn Quốc về Việt Nam.

Trên thực tế, Việt Nam đã đầu tư, xây dựng nhiều cảng biển quy mô lớn, có khả năng tiếp nhận tàu có tải trọng hơn 100.000 tấn; có 70 đường bay quốc tế..., nhưng hiện vẫn tồn tại nhiều hạn chế về vận tải biển quốc tế, vận tải hàng không quốc tế và các dịch vụ bên ngoài, vì thiếu hệ thống chung trên toàn thế giới. Đáng chú ý, cơ sở hạ tầng cho hoạt động logistics nghèo nàn và thiếu đồng bộ, hạn chế.

Hệ thống doanh nghiệp logistics quy mô nhỏ, hoạt động manh mún và thiếu tính chuyên nghiệp, tính hợp tác và liên kết để tạo ra sức cạnh tranh thấp. Cộng đồng khoảng 1.300 doanh nghiệp Việt Nam làm dịch vụ logistics chủ yếu ở quy mô vừa và nhỏ, chỉ chiếm 25% thị phần và khoảng 72% số người lao động (lao động được đào tạo bài bản chỉ chiếm 5% đến 7%), hầu hết chỉ làm dịch vụ các chuỗi cung ứng nhỏ trong lãnh thổ Việt Nam với một số phân khúc như: Dịch vụ giao nhận, cho thuê kho bãi, làm thủ tục hải quan, gom hàng lẻ và thị phần tại các cảng... Trong khi, cả nước có 25 trong số 30 tập đoàn giao nhận hàng đầu thế giới tham gia đầu tư và kinh doanh logistics dưới nhiều hình thức và chiếm 75% thị phần, chủ yếu là các dịch vụ quốc tế.

thao go nut that logistics
Ảnh minh họa. Nguồn: internet

Theo Quyết định số 200/QĐ-TTg ngày 14-2-2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025, Việt Nam đặt quyết tâm trở thành một đầu mối logistics quan trọng trong khu vực, với mục tiêu cụ thể: Các ngành dịch vụ logistics tăng trưởng dịch vụ đạt 15% đến 20%/năm, chiếm tỷ trọng 8% đến 10% GDP; tỷ lệ thuê ngoài dịch vụ logistics đạt 50% đến 60%; chi phí logistics giảm xuống tương đương 16% đến 20% GDP, xếp hạng theo chỉ số LPI trên thế giới đạt thứ 50 trở lên.

Để đạt mục tiêu nêu trên, chúng ta cần tạo đột phá về cơ chế quản lý nhà nước, bao gồm pháp luật và các chính sách hỗ trợ phát triển dịch vụ logistics, bộ máy quản lý để bảo đảm vai trò hỗ trợ, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng, phù hợp cam kết hội nhập, phát triển hạ tầng logistics. Xây dựng các trung tâm logistics và các doanh nghiệp dịch vụ logistics đầu tàu, hiện đại, chuyên nghiệp, có đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế cả về số lượng, quy mô, công nghệ, nhân lực và chất lượng dịch vụ, gắn với phát triển sản xuất hàng hóa, xuất nhập khẩu và thương mại trong nước, hạ tầng giao thông vận tải và công nghệ thông tin. Quản lý tốt chuỗi cung ứng, tiết kiệm nguyên vật liệu và chi phí sản xuất, rút ngắn thời gian lưu chuyển hàng hóa và phát huy tối đa lợi thế vị trí địa lý.

Các bộ, ngành và địa phương liên quan cần chủ động rà soát bảo đảm các quy hoạch, kế hoạch về giao thông, vận tải được phát triển đồng bộ, phù hợp các chiến lược, quy hoạch về sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, xuất nhập khẩu, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương, gắn kết quy hoạch về trung tâm logistics, cảng cạn, kho ngoại quan. Rà soát, điều chỉnh quy hoạch, cơ cấu sản xuất địa phương gắn phát triển hạ tầng và dịch vụ logistics, bảo đảm các quy hoạch, kế hoạch phát triển hạ tầng và dịch vụ logistics phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ logistics, phát triển kết cấu hạ tầng logistics, sàn giao dịch logistics gắn thương mại điện tử trên các địa bàn. Đẩy mạnh hoạt động phổ biến, tuyên truyền về thị trường và các cam kết quốc tế của Việt Nam liên quan đến dịch vụ logistics...

TS Nguyễn Minh Phong