Nhật ký một lần theo Đại tướng “về nguồn”

Cập nhật: 13:02 | 03/10/2018
Thế là ông đi xa đã một nửa thập kỷ, tên tuổi của ông, sự nghiệp của ông, tâm huyết của ông vẫn đồng hành cùng dân tộc. Hồi ức nhỏ này là nén nhang thơm tưởng nhớ ông.
nhat ky mot lan theo dai tuong ve nguon
Đại tướng chụp ảnh kỷ niệm với các phóng viên tại cửa hang Cốc Bó

Cuối năm 1989, nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trở lại thăm Cao Bằng, nơi 45 năm trước, tháng 12 năm 1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam, ra đời. Khi đó, tôi là phóng viên báo Quân khu Một vinh dự được “tháp tùng” Đại tướng “về nguồn”. Năm ấy Đại tướng vẫn còn khỏe lắm dù đã 78 tuổi, tôi nghĩ, đây sẽ là chuyến đi cuối cùng của ông trở về mảnh đất gắn với biết bao kỷ niệm của cuộc đời. Hơn 20 năm đã trôi qua, ấn tượng về Đại tướng và hình ảnh những cuộc gặp gỡ đầy xúc động vẫn nguyên vẹn trong tôi.

Ngày…

Ngày ấy Đại tướng không còn chức vụ chính thức nào nữa, có chăng chỉ là Chủ tịch danh dự Hội Cựu chiến binh Việt Nam, mà tuổi Đại tướng cũng đã cao, nói như bây giờ là hết tuổi quy hoạch rồi, cho nên chắc cũng chẳng ai cảnh giác với ông nữa. Những năm ấy, đi đâu, nói gì, Đại tướng vẫn ý tứ, giữ gìn lắm. Thế hệ chúng tôi, dù ông còn làm việc hay nghỉ hưu, mọi người vẫn yêu kính ông.

Xe xuất phát từ Thái Nguyên theo quốc lộ 3 lên Bắc Kạn. Gần trưa, đến huyện lỵ Ngân Sơn, cả đoàn nghỉ tại huyện ủy. Đại tướng bảo cán bộ văn phòng đưa lên nghĩa trang viếng mộ đồng chí Phùng Chí Kiên, một chiến sỹ cách mạng nổi tiếng từ thời tiền khởi nghĩa, viếng mộ bà Nông Thị Thanh, phu nhân của ông Doanh Hằng Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Thái, một trong 3 nữ chiến sỹ được bổ sung về Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, và các liệt sỹ. Cắm những nén nhang trên mộ những người đồng chí, tôi thấy ông bùi ngùi, rân rấn nước mắt.

Từ sau 1975, đây là lần thứ ba Đại tướng trở lại Cao Bằng, nơi Bác Hồ và các đồng chí, trong đó có ông, từ nước ngoài trở về từ những ngày Tổ quốc còn chìm trong nô lệ. Đây là nơi đã in dấu chân ông từ khi cách mạng mới nhen lên trong bóng tối. Đại tướng “về nguồn” với tư cách cá nhân nên không có tiền hô hậu ủng nhưng cũng không kém long trọng và thấm đượm nghĩa tình, bởi cán bộ các cấp và đồng bào ai cũng yêu kính nhớ thương, ai cũng muốn tận mắt trông thấy vị tướng lừng danh, thần tượng của bao người, nhưng rất đỗi thân thương, gần gũi với mình, sau bao năm xa cách.

nhat ky mot lan theo dai tuong ve nguon
Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Nhạc sỹ Văn Cao

Ngày…

Xe rời cơ quan tỉnh ủy Cao Bằng lúc bảy giờ sáng. Qua cánh đồng Nước Hai, Hòa An thấp thoáng trong sương mờ; xe tiến vào địa phận Hà Quảng, xa kia là những ngọn núi xếp hình răng cưa, nơi ông và các đồng chí của mình mở các lớp huấn luyện, vận động phong trào cách mạng. Những trái đồi nhấp nhô và những cánh đồng cuộn sóng, những bản nhỏ với hàng tre xanh uốn ngọn cong vút, một cây cầu có mái ngói bắc ngang dòng suối… Những khung cảnh này đưa ông về với những ngày xa ngái. Đại tướng bồi hồi nhớ những năm tháng hoạt động bí mật ở nơi đây, những đêm nằm lán nứa trong giá rét căm căm, ăn măng rừng, uống nước suối trong sự đùm bọc, yêu thương của đồng bào, gắn bó đến mức, ông có thể nói được tiếng nói của các dân tộc Tày Nùng, Dao, Mông thành thạo. Vượt qua ngọn đồi nơi đặt Bảo tàng Hồ Chí Minh, Pác Bó hùng vĩ hiện ra trước mắt, núi cao chất ngất nửa khung trời, suối Lênin vẫn ru điệu nhạc à à từ ngàn xưa, nước trong vắt nhìn rõ từng con cá nhỏ lượn lờ quanh tảng đá sẫm màu rêu nằm sâu trong lòng suối, từng đám cải xoong xanh mướt rập rờn bên mép nước. Ngọn núi Các Mác, cỏ cây chen đá, đứng sừng sững với thời gian; hang Cốc Bó lẩn khuất không xa bên suối nguồn Pác Bó…

Đại tướng lặng ngắm ngọn núi cao ngất chia đôi biên giới Việt - Trung, đôi mắt ông dõi nhìn phía cột mốc 108 nằm trên sườn núi và bồi hồi nhớ hình ảnh Bác ngồi thụp xuống vốc nắm đất dưới chân cột mốc đưa lên môi hôn trong ngấn lệ rưng rưng. Giọng ông trầm lắng: “Sau ba mươi năm bôn ba hải ngoại, năm 1941 Người mới lại đặt chân lên mảnh đất nước quê hương. Năm mươi tuổi, Người trở về Tổ quốc theo một con đường bí mật để trực tiếp lãnh đạo toàn dân tiến hành tổng khởi nghĩa giành lại độc lập, tự do cho dân tộc”.

Đại tướng nhớ lại, năm 1975, sau ngày giải phóng miền Nam, ông đã trở về Pác Bó và trồng ở đây một cây kim giao. Cây kim giao nay đã cao vút, tỏa cành xanh tốt. Ông vẫn nhớ nước nguồn Pác Bó rất ngọt, ngày hè nắng nóng uống những ngụm nước suối mát lạnh, sảng khoái vô cùng. Qua cây cầu nhỏ, tới nơi Bác Hồ vẫn ngồi nấu cháo bẹ, canh măng và câu cá. Gần đó là khóm trúc Bác trồng khi Người trở lại thăm Pác Bó năm 1961. Tất cả đều gợi nhớ về những kỷ niệm…

Ông kể, ngày mới về nước, Bác Hồ ở cùng gia đình ông Lý Quốc Súng dân tộc Nùng, một cơ sở cách mạng ở bản Pác Bó, nhưng nhà thường xuyên có khách lui tới nên Bác quyết định ra ở ngoài rừng và yêu cầu tìm cho Bác một nơi kín đáo, ít người qua lại. Các đồng chí cơ sở cách mạng đã chọn cho Bác hang Cốc Bó, một hang nhỏ, nằm sâu trong khe núi, nơi người địa phương cũng ít ai chú ý. Bác rất vừa lòng với nơi ở và làm việc mới, dù rất lạnh và ẩm thấp. Tại đây, Bác đã triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ Tám trong một căn lán nhỏ bên sườn núi, phía trước hang. Hội nghị Trung ương Đảng đã ra quyết định chuẩn bị võ trang khởi nghĩa và thành lập Mặt trận Việt Minh. Theo dòng hồi tưởng của Đại tướng, hình ảnh của Bác với bộ quần áo chàm trầm ngâm ngồi bên ngọn lửa hồng trong những đêm lạnh giá ngày ấy, hiện lên thật rõ nét trong tôi. Để giữ bí mật, Bác không dám đốt lửa to, sợ ánh sáng lọt ra ngoài, có những hôm mưa gió, củi ướt, bốc khói cay sè. Trong tiếng củi nổ tí tách, Bác phân tích tình hình thế giới, tình hình trong nước và dự đoán tương lai với các đồng chí Phùng Chí Kiên, Vũ Anh, Phạm Văn Đồng, Lê Quảng Ba và ông. Bác tiên lượng chừng bốn hay năm năm nữa, cách mạng Việt Nam sẽ thành công. Đại tướng sôi nổi kể, trông Bác giống như một ông ké người Nùng, từ trang phục đến lời nói, việc làm, lúc thổi cơm, ngồi câu cá, khi tắm suối, ngủ rừng… nhưng công việc chuẩn bị tổng khởi nghĩa, như Đại tướng hình dung, là vô cùng khó khăn, được Người triển khai một cách ung dung, tự tin. Có người hỏi, vũ trang khởi nghĩa thì lấy súng ở đâu? Bác đáp ngắn gọn: “Người trước súng sau. Có dân thì có súng. Có dân là có tất cả”. Khác với những phong trào đấu tranh vũ trang do Đảng ta lãnh đạo trước đó, như Xô Viết Nghệ Tĩnh, Khởi nghĩa Nam Kỳ, Khởi nghĩa Bắc Sơn, lần này, với Người, Đảng lãnh đạo quần chúng thông qua Việt Nam Độc lập đồng minh hội, gọi tắt là Việt Minh.

Tôi nhắc đến Chương trình mười điểm của Mặt trận Việt Minh đáp ứng những quyền lợi bức thiết nhất của tất cả mọi người dân cả nước được Bác Hồ soạn thành một bài, dạng đồng dao, với vài chục câu thơ ngắn gọn, ai đọc cũng hiểu, và bản dịch bài đồng dao này ra tiếng Tày Nùng, tiếng Dao, tiếng Mông của Đại tướng đã trở thành tài liệu đạt được mục đích tuyên truyền rất lớn. Đại tướng cười, nụ cười thật hiền: “Vì đồng bào không thạo tiếng Kinh, cần phải dịch ra tiếng Tày Nùng, tiếng Dao, tiếng Mông thì mới tuyên truyền chủ trương của Mặt trận Việt Minh đến đồng bào các dân tộc Việt Bắc được”. Đại tướng tâm sự với cánh nhà báo chúng tôi: “Bác Hồ rất coi trọng công tác báo chí. Bác nói: “Báo chí là người tổ chức quần chúng làm cách mạng”. Khi tôi đưa Bác xem tờ Tiếng suối reo chúng tôi làm ở Tĩnh Tây, Bác nói: “Báo này để cho các chú đọc, vì chỉ có các chú mới hiểu”. Bác trực tiếp chỉ đạo làm báo Việt Nam độc lập. Người đã viết nhiều bài, thông qua lần cuối những bài của Bác và của chúng tôi trước khi đưa in”.

Ước gì ngày dài hơn, đường cũng tốt hơn, để về thăm tất cả những nơi Đại tướng đã từng được đồng bào cưu mang, giúp đỡ trong những ngày hoạt động trên đất Cao Bằng. Nhưng đó là điều không thể. Thời gian bố trí cho chuyến đi quá ngặt nghèo. Các đồng chí lãnh đạo Cao Bằng đã sắp xếp cho Đại tướng sau khi rời Pác Bó sẽ về thăm xã Tam Kim, thăm bản Phai Khắt, nơi diễn ra trận đánh đầu tiên sau 2 ngày thành lập của Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, ngày 24.12.1944, và thăm khu rừng Trần Hưng Đạo. Đại tướng biết, các đồng chí ở địa phương đã rất cố gắng.

Buổi chiều...

Cùng trở lại nơi ra đời Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân là ông Nông Văn Lạc, người đảng viên đầu tiên của xã Tam Kim, người đã chia sẻ với Đại tướng từng bát cháo, từng hạt muối, từng que diêm trong thời kỳ tiền khởi nghĩa. Cùng đi còn có anh Dương Mạc Thăng, bí thư huyện ủy Nguyên Bình, con trai ông Xích Thắng (Dương Mạc Thạch), chính trị viên Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân. Thời gian như bóng câu qua cửa sổ, chốc đà đã 45 năm. Dù thương, dù nhớ đến bao nhiêu, nhiều người đã không thể chờ tới hôm nay để gặp lại. Không ít người đã mãi mãi đi xa, để thương để nhớ cho người trở lại. Và, Đại tướng cũng không thể rẽ vào xã Minh Tâm, xã anh hùng quê hương ông Xích Thắng với bao gia đình đã từng che giấu, nuôi ông trong những ngày địch khủng bố trắng. Đại tướng day dứt mãi khi biết bà con đã sửa đường cho bớt gập ghềnh để đón ông về với bản...

Khu rừng Trần Hưng Đạo nằm trên triền núi vẫn giữ nguyên quang cảnh cũ dù nạn phá rừng đốt nương khá phổ biến ở Cao Bằng. Đại tướng đã rất cảm động khi nghe bà con kể, khu rừng không bị tàn phá là nhờ những người dân ở bản Sham Cao gần đó giữ gìn, bảo vệ, không cho phát rừng làm nương và ngăn chặn lâm tặc chặt cây lấy gỗ, như đồng bào Thái ở Điện Biên giữ rừng Mường Phăng, chỉ bằng câu nói giản dị: “Không có khu rừng này làm gì có bộ đội cụ Hồ!”.

nhat ky mot lan theo dai tuong ve nguon
Tác giả và Đại tướng năm 2002

Vẫn những cây sau sau lá đỏ cao vút. Cây sấu già năm xưa tán lá vẫn rợp xanh, tiếp tục dâng cho đời những trái thơm ngọt. Trên vạt đất bằng phẳng, nơi ngày đó tung bay lá cờ đỏ sao vàng giờ đây là một tấm biển lưu niệm lớn ghi ngày thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân. Ngày ấy, vạt đất này là nơi bộ đội xếp thành ba hàng nghiêm trang làm lễ tuyên thệ, bây giờ là những dãy ghế đá dưới những tán lá xanh mát đón khách tham quan. Đại tướng trầm ngâm đứng trên mảnh đất 45 năm trước ông đã đọc Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân của Bác Hồ, trước 34 chiến sỹ: “Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong cho chóng có những đội quân đàn em khác. Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của Giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”... Chính nơi đây, ngày 22 tháng chạp năm 1944, ông đã đọc mười lời thề danh dự của chiến sĩ cứu quốc. Núi rừng hôm nay như còn âm vang tiếng hô của những chiến sĩ thuộc các tộc người: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Mông… thề hy sinh tất cả cho độc lập dân tộc, thề chiến đấu đến giọt máu cuối cùng cho Tổ quốc Việt Nam.

Đại tướng đã thực hiện đúng chỉ thị của Bác Hồ: “Trận đầu phải thắng”. Ông kể, liền trong hai ngày sau đó, ngày 24 và 25 tháng 12, trung đội Giải phóng quân đã tiêu diệt gọn hai đồn Phai Khắt và Nà Ngần. Hai trận đánh diễn ra trong chớp nhoáng, địch không kịp trở tay, quân ta bảo toàn lực lượng, bắt sống tất cả lính đồn, thu toàn bộ vũ khí của địch, và rồi lại thả tất cả tù binh, cho về quê làm ăn. Với vũ khí thu được từ hai trận đánh, chỉ mấy ngày sau, trung đội đầu tiên đã phát triển thành đại đội. Đơn vị đón nhận thêm những người con ưu tú của quê hương Cao Bằng: Vũ Lập, Quang Trung, Nam Long… Tháng 4 năm 1945, sau Hội nghị quân sự Bắc Kỳ do Tổng Bí thư Trường Chinh chủ trì, Cứu quốc quân và Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân sáp nhập thành Việt Nam Giải phóng quân. Tiếp đó, tháng 8 năm 1945, Hội nghị cán bộ toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào (Tuyên Quang) đã quyết định thống nhất lực lượng vũ trang cách mạng trong cả nước thành Việt Nam Giải phóng quân. Đúng như lời tiên tri của Bác, Giải phóng quân đã phát triển nhanh chóng, cùng với toàn dân đưa cách mạng tháng Tám đến thành công. Giải phóng quân có mặt suốt từ Bắc chí Nam, trở thành nòng cốt của cuộc chiến tranh toàn dân, đảm đương vững vàng nhiệm vụ ngày càng nặng nề và khó khăn trong suốt những năm chiến đấu giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế.

Trở lại nơi xưa, Đại tướng nhớ tới những đồng đội có mặt tại khu rừng Trần Hưng Đạo này, nay không còn hoặc đang công tác xa. Hoàng Sâm, người Đội trưởng thao lược ngày ấy, vị tướng Tư lệnh quân khu tài ba trong kháng chiến chống Mỹ, đã hy sinh tại chiến trường Trị - Thiên. Xích Thắng, Chính trị viên của đội trở thành Khu ủy viên Việt Bắc, Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh Hà Giang, đã qua đời. Hoàng Văn Thái, người phụ trách công tác tình báo của đội, sau này trở thành Tổng tham mưu trưởng quân đội, Thứ trưởng thứ nhất Bộ Quốc phòng, rồi Đàm Quang Trung, Vũ Lập, Nam Long, Quốc Chủng... nhiều người đã không còn nữa, và biết bao đồng chí khác đã ngã xuống trên chiến trường Liệt sỹ đầu tiên của quân đội là đồng chí Hoàng Văn Nhủng bí danh Xuân Trường trong trận thứ ba đánh đồn Đồng Mu (Bảo Lạc, Cao Bằng). Ông cũng đã mang một cây đa lấy từ vườn cây của Bác Hồ lên trồng ở nơi Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, để ghi nhớ kỷ niệm cùng những đồng đội của mình.

Từ đường 3B rẽ vào, trên con đường còn nham nhở gồ ghề mới mở tạm cho xe qua, lên tới đỉnh đèo, núi rừng, ruộng vườn xã Tam Lộng xưa hiện ra trước mắt. Sau gần một nửa thế kỷ, thiên nhiên nơi đây gần như không thay đổi, gợi nỗi nhớ mênh mang trong lòng Đại tướng. Vẫn núi cao sừng sững, cổ thụ xanh um, vẫn những thửa ruộng bậc thang nối dài trên triền núi. Những ngôi nhà sàn, nhà đất, mái lợp ngói âm dương lấp ló sau hàng trúc xanh, những ngọn khói vẫn tỏa như sương, bảng lảng. Bên trái đường là Phia Bụt, ngọn núi cao ngất. Theo truyền thuyết, Phia Bụt là ngọn núi tiên, có đường lên trời. Trên đỉnh núi có một hồ nước trong mát dưới những hàng cây tỏa bóng, nơi những nàng tiên xiêm áo thướt tha bay từ trên trời xuống đây tắm và đùa vui trên triền cỏ mướt xanh. Một nàng tiên thường dạo chơi trong khu rừng, hái hoa, ngắm cảnh rồi gặp và đem lòng yêu thương một chàng trai tài giỏi nơi hạ giới. Mê đắm cảnh đẹp của trần gian và yêu thương con người biết lao động sáng tạo cho cuộc sống, nàng đã từ bỏ chốn thần tiên, ở lại hạ giới cùng chàng trai. Từ đó, vào mùa mưa, mỗi khi nước từ đỉnh núi đổ xuống, người ta lại thấy hiện lên giữa dòng thác hình ảnh một cô gái áo xiêm trắng muốt ngồi trên lưng ngựa, tay xòe chiếc quạt lông thiên nga. Những ngày hoạt động cách mạng ở Cao Bằng, Đại tướng thường vượt qua ngọn núi tiên Phia Bụt, ngọn núi cao ngất kia, nơi có đường lên trời, để xuống Tam Lộng hoặc sang Tổng Kim Mã. Phia Bụt cũng là nơi Đại tướng thành lập chi bộ đầu tiên ở vùng này, chi bộ gồm có ông và các đồng chí Nghĩa, Lạc, Thiết Hùng. Bên phải đường là Phia Niếng, thấp hơn Phia Bụt một chút, rừng cây vẫn xanh tốt như xưa. Xa kia là hang Thẩm Khấu trên sườn núi, nơi ngày xưa Đại tướng đã mở lớp huấn luyện đầu tiên cho các cán bộ cách mạng tại các xã Tam Lộng và Kim Mã, nay hai xã hợp nhất thành xã Tam Kim. Dưới chân ngọn Phia Niếng có một lòng khe, nơi Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân đã ém quân suốt một ngày trước khi đánh đồn Phai Khắt.

Lâu nay, nhiều người thường chỉ hiểu Phai Khắt là nơi diễn ra trận đánh đồn đầu tiên của quân đội ta mà không biết rằng, ngày đó, làng Phai Khắt đã là một làng kháng chiến, tất cả mọi gia đình đều có người tham gia các Hội Cứu quốc. Đại tướng đã hoạt động khá lâu tại đây và thuộc từng ngôi nhà, từng góc ruộng, từng bờ suối, bụi cây. Thời kỳ địch khủng bố trắng, ban ngày bà con đưa ông ra náu ở những rặng cây rậm ven làng, ven suối. Mãi tới năm 1944 thực dân Pháp mới đưa quân về đóng hẳn ở đây, chúng chiếm ngôi nhà khá kiên cố của gia đình ông Nông Văn Lạc vừa xây dựng xong, làm đồn. Vậy là đồn địch nằm giữa làng, xung quanh là những gia đình cơ sở cách mạng. Đại tướng nói, đây cũng là một lý do để bộ đội chọn Phai Khắt làm mục tiêu cho trận ra quân đầu tiên.

Làng Phai Khắt hôm nay không khác ngày xưa nhiều. Trước đây có hơn chục ngôi nhà, nay tăng lên chừng gấp đôi. Ngôi nhà cũ của gia đình ông Lạc vẫn to nhất làng, trước cửa treo một tấm biển có hình quân hiệu bên dòng chữ: “Đồn Phai Khắt. Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân tiêu diệt ngày 24/12/1944”. Không hiểu tấm biển lưu niệm này được làm từ bao giờ, màu sắc vẫn còn tươi. Qua cổng là mảnh sân rộng trước nhà, nơi 17 tên lính đồn Phai Khắt bị bắt làm tù binh ngồi tập trung nghe bộ đội cách mạng giải thích chính sách của Việt Minh rồi tha cho về nhà làm ăn, bây giờ được chia ra một phần làm lối đi vào nhà với những cây sử quân tử nở đầy hoa hình mặt trời đỏ chói, còn lại là một vườn rau xanh tốt. Khoảnh đất phía bên trái ngôi nhà, nơi viên đồn trưởng Pháp bị bắn chết trong trận đánh đồn nay dựng một chuồng trâu. Trên nền nhà cao, ngôi nhà vẫn còn nguyên vẹn với bốn ô cửa hình vòm. Gian buồng ngủ cũ của viên quan đồn giờ đặt những chiếc khung cửi, nơi hai cô cháu gái ông Lạc hàng ngày vẫn thoăn thoắt đưa thoi.

Bà con Phai Khắt biết tin “bác Văn” về thăm từ mấy ngày trước. Người từ huyện lỵ Nguyên Bình đổ về, từ xã Minh Tâm vào, từ xã Hoàng Hoa Thám, Trần Hưng Đạo kéo xuống, không khí đông vui như ngày hội. Hôm nay, dân bản rộn rã với những bộ quần áo màu sắc rực rỡ chờ đón Đại tướng. Tất cả người già, người trẻ, xếp hàng hai bên đường vào trụ sở ủy ban xã đông nghịt, gương mặt hân hoan hướng về vị tướng già thân thương. Đại tướng cười tươi giơ tay chào bà con nhưng vẫn không quên dõi tìm những người xưa. Ôi Đặng Phương Quý! Người Dao Tiền, tiểu đội trưởng tiểu đội 3. Đại tướng xúc động gọi tên người đồng đội. Đặng Phương Quý ôm lấy Đại tướng hôn, rồi gục vào vai ông nấc lên hồi lâu và nghẹn ngào: Thế mà có người bảo anh yếu lắm! Đại tướng ôm người đồng đội già rồi lại buông ra nhìn, miệng cười mà nước mắt ngân ngấn. Như vậy là, sau 3 lần trở về thăm chiến khu, Đại tướng đã gặp được đủ cả ba đồng chí tiểu đội trưởng cũ của Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân: Thu Sơn, tiểu đội trưởng tiểu đội 1 quê ở Hòa An, là người dẫn đầu toàn đội trong hai trận đánh Phai Khắt, Nà Ngần; Kim Anh, tiểu đội trưởng tiểu đội 2 quê ở Ngân Sơn, người được giao khẩu tiểu liên Mỹ, hỏa lực mạnh nhất của Đội; Và hôm nay, sau bao năm cách xa, Đại tướng đã được ôm trong vòng tay, được vỗ về người đồng đội cũ Đặng Phương Quý, tiểu đội trưởng tiểu đội 3 trong đội quân 34 người của ông ngày xưa ấy.

Trong cuộc gặp mặt đầy xúc động hôm đó còn có đồng chí Tiến Lực, đồng chí Lê Lợi, những đội trưởng tự vệ đã tham gia lớp quân chính do Thiết Hùng và ông huấn luyện, cùng rất nhiều người đồng cam cộng khổ tham gia hoạt động cách mạng những ngày gian khó xưa. Anh Trọng ngày đó là Thư ký thanh niên. Cậu thiếu niên tiền phong người Dao Tiền, con trai đồng chí Phạm Ngũ Lão, đã đóng vai người cộng sản bị bắt, bị trói tay để các đội viên Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân giả làm lính dõng giải vào đồn Nà Ngần, nay đã bước qua tuổi sáu mươi. Bé Hồng, em nhỏ trinh sát đồn Phai Khắt, nay cũng đã gần lục tuần. Đồng chí Công Lý, với cả gia đình hết lòng giúp đỡ cán bộ cách mạng trong những ngày đen tối. Chị Kim Hoa, từ bản trên núi cao xuống, vẫn với bộ trang phục truyền thống của dân tộc Dao có những đồng tiền bạc lấp lánh như ngày xưa, trao cho Đại tướng những ống cơm lam mới nướng bằng gạo nếp nương thơm lừng. Chị vợ anh Xích Thắng, anh Lương, chị Toàn… từ xã Minh Tâm sang. Cả gia đình anh Lương đều tham gia hoạt động cứu quốc. Chị Toàn, người phụ nữ rất mực kiên cường, đã được đoàn thể trao nhiệm vụ tiếp tế cho các chiến sỹ cách mạng suốt thời kỳ địch khủng bố trắng. Nhà thơ người Dao Bàn Tài Đoàn, người trổ lá làm thơ trong lớp huấn luyện ở Cẩm Lý, từ huyện lỵ Nguyên Bình xuống, tặng ״anh Văn״ hai bài thơ… Gặp nhau mừng mừng, tủi tủi, kẻ cười người khóc. Người tặng mật ong, trái cây, người tặng thổ cẩm. Đại tướng cảm động ôm từng người, cầm tay từng người, nước mắt rưng rưng. Trải qua bao nhiêu biến thiên, tất cả những người Đại tướng gặp lại hôm nay, tuổi tác đã thêm nhiều nhưng vẫn thuần phác như xưa, không mảy may thay đổi tấc lòng đối với ông, với cách mạng.

Chuyện trò không dứt, ông lúc nói tiếng Dao, lúc hỏi bằng tiếng Tày Nùng, tiếng Mông. Thấy ông vẫn nói được tiếng “đằng mình” dù đi xa đã lâu, ai cũng cảm động đến rơi nước mắt. Nhưng rồi cũng tới lúc phải chia tay, Đại tướng nắm những bàn tay thân thiết không nỡ rời. Từng đoàn người lội băng qua suối, đuổi theo, ngẩn ngơ dõi nhìn chiếc xe cuối cùng khuất dần sau cánh rừng Sham Cao. Tôi nhìn sang Đại tướng, nghẹn lòng khi thấy ông vẫn ngoái nhìn nơi ông vừa chia xa, rồi ngoái nhìn lần nữa cây Sổ bên dòng suối, nơi bộ đội tập trung trước khi đánh đồn Phai Khắt. Thân cây đã bị sâu đục một nửa nhưng cành lá vẫn xanh tươi nghiêng mình soi bóng trên mặt nước. Lòng tôi se lại khi nghe ông ngậm ngùi nói: “Mấy chục năm đã qua, làng Phai Khắt vẫn nghèo và xa xôi cách biệt quá”.

Làm việc với các đồng chí lãnh đạo của tỉnh và huyện, Đại tướng nhắc nhở Cao Bằng còn nhiều việc phải làm, trước hết phải lo cái ăn, cái mặc cho đồng bào, rồi đưa thông tin đến với bà con vùng cao, vùng sâu. Ông thủ thỉ như tâm tình với anh Dương Mạc Thăng bí thư huyện ủy con trai ông Xích Thắng (Dương Mạc Thạch nguyên chính trị Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân) - Thế mạnh quý báu nhất của Cao Bằng chính là con người, là đồng bào các dân tộc thuần phác, nồng nàn yêu nước, khát khao độc lập, tự do, được hun đúc từ sự dày công giáo dục của Bác Hồ từ những năm tiền khởi nghĩa, và thời gian đã chứng tỏ tấm lòng sắt son của đồng bào qua ba cuộc chiến tranh. Cao Bằng và các tỉnh vùng cao đang mong chờ nghị quyết mới của Đảng về miền núi, về chính sách dân tộc.

Đại tướng còn chia sẻ, lý tưởng cũng như hoài bão của Bác Hồ đã được chính Người diễn tả một cách cực kỳ giản dị, Bác “chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Với Người là độc lập, là tự chủ, là sáng tạo, là đổi mới không ngừng, và không bao giờ đi chệch khỏi mục tiêu lý tưởng, tất cả đều vì dân. Hãy đinh ninh lời bác Hồ: “Nếu nước được độc lập mà nhân dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì cũng không có nghĩa lý gì”. Đi theo con đường của Người, chúng ta đang đến với văn minh, hạnh phúc, dân giàu nước mạnh, xây dựng được một xã hội ở đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người. Đoàn xe trở về trĩu nặng cảm xúc và suy tư. Như ngày nào trở về thăm ATK Định Hóa, Thái Nguyên, Đại tướng nói với chúng tôi: “Khi còn khỏe, mỗi năm ít nhất phải về thăm chiến khu một lần”, hôm ấy ông lại nói: “Cố gắng mỗi năm về thăm đồng bào Cao Bằng ít nhất một lần”. Sau chuyến đi năm 1989, Đại tướng còn trở lại Cao Bằng 2 lần nữa, mặc dù tuổi mỗi ngày một cao, sức khỏe không còn như trước. Cứ nhớ đến câu Đại tướng nói với đồng bào lúc chia tay, bằng tiếng Tày: “Piom bái đồng bào lai, điếp căn lẳm!” (Cảm ơn đồng bào nhiều, thương nhau lắm) lòng tôi lại trào dâng cảm xúc. Ông thật nặng nghĩa nặng tình!

Hà Phương Thiện