Nghiên cứu về thụ tinh ống nghiệm của bác sĩ Việt Nam được thế giới quan tâm

Cập nhật: 07:47 | 12/01/2018
Tạp chí y khoa New England Journal of Medicine đăng tải kết quả nghiên cứu của nhóm bác sĩ Việt Nam về thụ tinh trong ống nghiệm làm giới y khoa thế giới xôn xao.
nghien cuu ve thu tinh ong nghiem cua bac si viet nam duoc the gioi quan tam
Tạp chí y khoa nổi tiếng nhất thế giới New England Journal of Medicine.

Một số hãng thông tấn lớn như Reuters, Tân Hoa Xã đã đồng loạt đăng tải.

nghien cuu ve thu tinh ong nghiem cua bac si viet nam duoc the gioi quan tam
Ảnh: VTV

Công trình về chuyển phôi khi thụ tinh ống nghiệm do tiến sĩ, bác sĩ Vương Thị Ngọc Lan (Đại học Y Dược TP.HCM) và các cộng sự thực hiện.

Nhóm bác sĩ đã nghiên cứu ngẫu nhiên trên 782 phụ nữ vô sinh không do buồng trứng đa nang đang thụ tinh ống nghiệm (TTON). Kết quả cho thấy, việc chuyển phôi đông lạnh mang lại kết quả thành công tương đương như chuyển phôi tươi khi TTON.

Nghiên cứu này được coi là “khá chấn động” vì có thể thay đổi cách thụ tinh nhân tạo, không cấy một lần nhiều phôi như trước đây. Cũng vì thế mà cơ hội có thai gia tăng mà nguy cơ đa thai được giảm tối đa.

TS.BS Vương Thị Ngọc Lan nói hiện nay trên thế giới có hai cách TTON. Đó là chuyển phôi tươi trực tiếp vào tử cung hoặc lấy trứng ra, đông lạnh phôi, sau đó mới chuyển vào tử cung. Các trung tâm thụ tinh trong ống nghiệm trên thế giới và ở Việt Nam thường ưu tiên chuyển phôi tươi. Số phôi còn dư sẽ được đông lạnh và đề dành để chuyển phôi các lần sau, tạo thêm cơ hội cho người bệnh.

“Phát hiện quan trọng nhất từ nghiên cứu này là việc đông lạnh phôi để thực hiện TTON không gây ảnh hưởng đến cơ hội thực hiện ước mơ của các cặp vợ chồng mong con. Sau chu kỳ chuyển phôi tươi đầu tiên, bệnh nhân có thể đông lạnh tất cả phôi còn lại và thực hiện chuyển phôi sau đó một cách an toàn và hiệu quả”, BS Lan nói

Theo bác sĩ Hồ Mạnh Tường (Bệnh viện Mỹ Đức, thành viên nhóm nghiên cứu), dự án nghiên cứu này trải qua khoảng bốn năm: gần hai năm để thu thập số liệu, 11 tháng để phân tích số liệu và viết bài và 10 tháng từ lúc gởi bài cho đến khi được đăng trên NEJM.

GS Nguyễn Văn Tuấn, ĐH New South Wales, Úc, người giúp đỡ nhóm một số việc trong giai đoạn cuối, vui mừng: “Đây là thành tựu đáng tự hào và cũng là một minh chứng rằng VN có thể làm những nghiên cứu chất lượng rất cao”.

Kết quả nghiên cứu có thể thay đổi cách thụ tinh nhân tạo, được đánh giá mang lại lợi ích thiết thực cho bệnh nhân Việt Nam và các bác sĩ trong lĩnh vực thụ tinh trong ống nghiệm trên thế giới.

Huy Hoàng