Kỷ niệm về Khóa Đại học báo chí giữa hai cuộc chiến tranh

Cập nhật: 20:38 | 05/04/2019
Lớp Báo chí-Xuất bản khóa I (1969-1973) Trường Tuyên huấn Trung ương ra trường hơn một năm, mãi đến tháng 12-1974 khóa II chúng tôi mới thi đầu vào, tháng 2-1975 chúng tôi mới nhập trường và là khóa thứ hai đào tạo bậc đại học. Lúc đó, chiến tranh ở miền Nam chưa kết thúc.  
ky niem ve khoa dai hoc bao chi giua hai cuoc chien tranh
Báo chí khóa II kỷ niệm 35 năm ngày ra trường

Tôi nhớ thuở ấy, trường nằm chơ vơ giữa cánh đồng, mùa mưa ếch kêu uôm uôm, côn trùng nỉ non bên hàng dừa. Bên kia đường Xuân Thủy bây giờ là làng Cốm Vòng, và làng Hậu, sau hai làng là cánh đồng ngút ngát tới tận Thanh Xuân. Đường Nguyễn Phong Sắc ngày xưa là con đường cấp phối bé tẹo chạy giữa cánh đồng, hai bên trồng hàng phi lao khẳng khiu cao vút, góc đầu đường có bụi tre già luôn buộc mấy con trâu, vừa đuổi ruồi vừa trệu trạo nhai rơm.

Ấn tượng đầu tiên về nhà trường là bác Hào bảo vệ, một người rất trách nhiệm và nhiệt tình đến kỳ lạ. Không như bây giờ, mỗi khi có khách có thể thông báo bằng điện thoại, ngày ấy bác cứ phải lọc cọc đạp xe vào tận những dãy nhà cấp 4 xây dựng xung quanh trường làm ký túc xá cho sinh viên để gọi. Bác có trí nhớ khá tốt, sinh viên mới vào trường chỉ một tháng sau bác đã nhớ lớp, nhớ phòng ký túc xá của từng người và bác luôn đến tận nơi thông báo, không để ai không gặp được khách. Chỉ có điều, đừng ai dại dột gọi bác là chú hay bác, bác chỉ thích được gọi là anh, sau này đến mấy cô báo B, học sinh phổ thông đi học, nắm được thóp ấy cứ “anh Hào, anh Hào” ngọt xớt, qua cổng rồi bụm miệng cười với nhau.

ky niem ve khoa dai hoc bao chi giua hai cuoc chien tranh
Lớp báo B ngày ấy

Khi mới nhập trường, lớp tôi có gần 90 người, sau khi chính thức vào học, một số anh không có bằng cấp III được chuyển sang học lớp bồi dưỡng 18 tháng và vài người trả về địa phương, còn lại gần 80 người. Anh Lê Sỹ Hành trung úy bộ đội chuyển ngành về làm báo Thanh Hóa, một người vẫn giữ nguyên dấu vết sốt rét rừng Trường Sơn, làm lớp trưởng; anh Hồ Xuân Đoan và anh Thái Duy Am làm lớp phó.

Chúng tôi đều là cán bộ đi học nên tuổi tác khá chênh lệch, trẻ nhất là Tạ Ngọc Tấn, Bùi Hương Phúc sinh 1954,1955, nhiều tuổi nhất là bác Tô Quốc Bảo báo Nghệ An sinh năm 1937, bác Hoàng Lãm báo Công Thương sinh năm 1939, nghĩa là chênh nhau đến 15 - 20 tuổi. Tuy chênh lệch tuổi tác khá nhiều nhưng anh em trong lớp rất thương yêu nhau và lúc nào cũng vui.

ky niem ve khoa dai hoc bao chi giua hai cuoc chien tranh
Báo B sau 35 năm ra trường

Giáo trình ngày ấy chưa phong phú như bây giờ nhưng thầy thì rất “xịn”. Về nghiệp vụ, chúng tôi được nghe giảng từ các thầy Hoàng Tùng, Thép Mới, Hữu Thọ, Trần Minh Tân, Phan Quang, Đỗ Quảng… Các thầy không chỉ lên lớp mà còn tổ chức nói chuyện ngoại khóa. Các buổi ngoại khoá đã cung cấp cho chúng tôi rất nhiều kinh nghiệm làm báo, giúp chúng tôi trưởng thành nhanh hơn. Thầy trưởng khoa Trần Bá Lạn luôn trầm tĩnh, nhỏ nhẹ trong giải quyết mọi công việc, phong cách làm việc của thầy khiến chúng tôi cảm thấy thật gần gũi.

Thầy Diễm, thầy Thiệu, thày Hải, thầy Hương, thầy Trúc, thầy Tri Niên, thày Việt Thái, Thày Khang, Thày Thuận… lúc nào cũng ân cần, chia sẻ. Cái thời ấy ăn uống kham khổ, học hành vất vả nhưng vui lắm, thầy trò, bè bạn luôn quan tâm tới nhau, tình nghĩa hết mực.

ky niem ve khoa dai hoc bao chi giua hai cuoc chien tranh
Với các thày

Khóa đào tạo của chúng tôi nằm giữa hai cuộc chiến tranh, chống Mỹ, Polpot ở miền Nam và chiến tranh biên giới phía bắc. Năm học cuối, lớp chúng tôi buồn vô cùng khi mất đi Ngô Tất Thắng và Vũ Hiến. Ngô Tất Thắng là một sinh viên cận thị nặng, sức khoẻ rất kém nhưng ham đi ham viết, thực tập tại báo Quân đội nhân dân đã hy sinh cuối năm 1978 ở chiến trường Campuchia. Anh Vũ Hiến phóng viên báo Hải quân, đang học lớp Báo A cùng chúng tôi chuyển sang lớp Bồi dưỡng, cũng hy sinh ở bên ấy vào đầu năm 1979.

Thời đi học, chúng tôi lao vào thực hành như điên. Ngày nghỉ chúng tôi tranh thủ xuống cơ sở làm tin, chụp ảnh, viết bài. Không có máy ảnh, máy quay số và studio như bây giờ, chúng tôi hì hục tráng ảnh trong nhà tắm cả đêm. Những ngày đầu làm báo để lại rất nhiều kỷ niệm. Tôi nhớ mãi một chuyện vừa vui vừa buồn cười đã diễn ra trong những ngày đầu tập làm báo còn non nớt của chúng tôi. Theo kế hoạch, ngày mai, chủ nhật, lớp Báo sẽ tham gia đào vét sông Tô Lịch với khối lượng nhà trường đã giao, anh Đức Lệ viết ngay tin về buổi lao động chưa diễn ra gửi cho đài Hà Nội.

ky niem ve khoa dai hoc bao chi giua hai cuoc chien tranh
Năm nào cũng một lần gặp nhau

Hôm sau vì mưa, buổi lao động không thực hiện được, nhưng sinh viên lớp Báo nằm trên giường bò ra cười nghe đài Hà Nội đưa tin với giọng đọc sang sảng của phát thanh viên, rằng sinh viên lớp Báo khoá II, Trường Tuyên Huấn Trung ương hăng hái tham gia lao động, đào đắp, vận chuyển hàng chục mét khối đất để làm đẹp thành phố.

Rồi chiến tranh biên giới nổ ra, nghe loáng thoáng trên đài rằng đến tướng Nguyễn Cao Kỳ sống tận bên Mỹ cũng có nguyện vọng về quê đánh giặc, thế là Lê Văn Xiêm viết ngay mẩu chuyện nhỏ kể về một anh trung sỹ công an dẫn độ một tù nhân từ Pò Hèn về thị xã Hồng Gai Quảng Ninh, dọc đường gặp giặc hai người đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, người tù bị giặc bắn chết, anh trung sỹ công an bị thương đang nằm điều trị tại bệnh viện. Chiến tranh kết thúc, Chủ tịch nước đề nghị tặng huân chương cho anh trung sỹ nhưng tìm chẳng thấy đâu, hỏi người viết, anh bảo chuyện phịa. Cũng may, động cơ của người viết hoàn toàn trong sáng nên không bị kỷ luật.

Trong mấy chục năm làm báo, các thành viên trong lớp Báo A của chúng tôi đã có nhiều cống hiến và thành đạt, nhất là những anh Xuân Trình - Tổng biên tập Báo Hà Nội Mới, anh Nguyễn Các, Mạnh Chung - Tổng biên tập tờ Tuần tin tức TTXVN, anh Lê Hoàng Linh - Giám đốc Đài phát thanh truyền hình Quảng Nam, anh Nguyễn Văn Phùng - Phó chủ tịch Hội nhà báo thành phố Hồ Chí Minh, anh Bùi Ỉnh - Thường vụ tỉnh ủy, Trưởng ban Tuyên giáo tỉnh Hòa Bình, Nguyễn Văn Yêu - Tổng biên tập báo Hà Giang, anh Lý Văn Sáng - Phó Tổng biên tập báo Cao Bằng, anh Nguyễn Quân - Tổng biên tập báo Hải Phòng, anh Đình Khải - phát thanh viên gạo cội Đài Tiếng nói Việt Nam, Đức Đông - Phó tổng biên tập Thời báo Ngân Hàng, anh Hữu Ước – Trung tướng, Phó Tổng cục trưởng cục xây dựng lực lượng Bộ Công an, Tổng Biên tập báo Công an nhân dân, anh Tạ Ngọc Tấn - Uỷ viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh…

ky niem ve khoa dai hoc bao chi giua hai cuoc chien tranh
Chi 2 lớp Báo A

Sẽ thật tiếc nếu nói khóa II không nhắc đến lớp báo B, đây là lớp dành cho học sinh mới tốt nghiệp phổ thông nhưng là con em cán bộ miền nam tập kết. Họ được đào tạo cho miền Nam, nếu chiến tranh chưa kết thúc họ sẽ là những phóng viên chiến trường. Họ trẻ, đẹp phơi phới giữa các anh, các chị cán bộ đi học, làm không khí trong trường vui tươi hẳn lên. Hai lớp báo gắn bó mật thiết nhiều cặp, nhiều đôi đã gắn bó với nhau suốt đời. Báo B cũng có khá nhiều người trưởng thành làm quản lý báo chí và nhiều phóng viên giỏi ở các tỉnh phía Nam.

Hơn 40 năm trôi qua, lớp Báo của chúng tôi đã vơi đi khá nhiều, để lại trong tôi nỗi niềm thương nhớ. Những người đã về cõi đầu tiên là lớp trưởng Lê Sỹ Hành, rồi anh Tô Quốc Bảo báo Nghệ An, anh Lý Văn Sáng báo Cao Bằng, anh Đức Lệ Đài phát thanh truyền hình Hà Nội, anh Mạnh Chung, chị Nguyễn thị Đấn ở TTXVN, Lê Xiêm báo Biên phòng, anh Toại báo Gia Rai... Và mới năm kia anh Hoàng Lãm cũng bỏ chúng tôi đi. Rồi năm ngoái chúng tôi lại mới đưa tiễn La Thanh Tịnh, Đặng Triệu Nghì. Lớp chúng tôi đều đã nghỉ chế độ, duy nhất chỉ còn GS.TS Tạ Ngọc Tấn, người thành đạt nhất lớp, còn làm việc tại Hội đồng Lý luận Trung ương. Trung tướng Hữu Ước cũng đã rời quan trường lui về viết sách.

ky niem ve khoa dai hoc bao chi giua hai cuoc chien tranh
40 năm chúng tôi lại gặp nhau, lại hát như thời xưa

Mỗi lần trở về mái trường xưa, nhìn những cây xà cừ cổ thụ, những cây nhãn già nua nhưng vẫn trổ hoa kết trái mỗi chúng tôi như được sống lại với những kỷ niệm ngày xưa. Có những kỷ niệm vui những cũng có những kỷ niệm vui, buồn của thời học trò cùng bạn bè trang lứa. Những kỷ niệm ấy dù vui hay buồn vẫn luôn được chúng tôi nhắc lại “để nhớ một thời” vô tư và trong sáng.

Lắng đọng lại tận sâu thẳm trái tim mỗi người là sự trân trọng tình thầy trò, tình bè bạn. Chúng tôi ra trường mỗi người một ngả, tất cả đều yêu nghề và đều cố gắng hoàn thành chức trách được giao rồi về nghỉ chế độ một cách thanh thản. Đó là món quà chúng tôi dành tặng và báo đáp công lao to lớn của các thầy cô, góp phần ghi thêm những trang vàng thành tích của mái trường Tuyên huấn Trung ương, nay là Học viện Báo chí và Tuyên truyền thân yêu của mình.

ky niem ve khoa dai hoc bao chi giua hai cuoc chien tranh
Ảnh minh họa

Hằng năm chúng tôi vẫn gặp nhau một đôi lần để ôn lại kỷ niệm xưa. Mỗi lần gặp gỡ, thấy lớp cứ vơi dần, để lại trong tôi những khoảng trống nhói lòng. Không ai cưỡng lại được quy luật của tạo hoá, thế là chúng tôi vẫn đến, thăm hỏi và cùng nhau hồi tưởng buồn vui quá khứ rồi mỗi người lại trở về với cuộc sống thường nhật và những lo toan của riêng mình. Trong cuộc sống, ai cũng có những nỗi buồn, những lúc trách giận, hờn tủi, nhưng rồi cũng muốn bỏ qua để đến với nhau, có thể chỉ là một tin nhắn, một cuộc điện thoại thăm hỏi thân tình cho lòng mình thanh thản hơn, cuộc sống thi vị hơn.

Năm nay, khi Hội nhà báo tổ chức kỷ niệm 70 năm lớp báo Huỳnh Thúc Kháng thì khóa II chúng tôi kỷ niệm 40 năm ngày ra trường. Mái trường Tuyên huấn Trung ương nay là Học viện Báo chí và Tuyên truyền của chúng tôi đến hôm nay đã có bề dày ngót 60 năm. Đó là cả một chặng đường hoàn thiện và phát triển với rất nhiều thành tích đáng tự hào. Những hội trường rộng lớn, những giảng đường khang trang, những phòng thực tập với trang thiết bị hiện đại, những phòng đọc đầy đủ các loại sách, giáo trình, tài liệu nghiên cứu… Nhìn những hàng cổ thụ cành lá xum xuê, chứng nhân của bao thế hệ sinh viên, vươn cành lên tận tầng 2 tầng 3 những ngôi nhà mới. Chúng tôi lại bồi hồi nhớ những ngày xưa. Kỷ niệm ngày xưa ơi, mái trường ơi, chúng tôi nhớ tất cả!

Thái Hà