Huỳnh Thị Bảo Hoà: Người phụ nữ không cam chịu (Phần I)

Cập nhật: 14:33 | 16/10/2018
Quan niệm truyền thống của người phương Đông, phụ nữ chỉ cần lo đảm nhiệm các công việc nội trợ trong gia đình, còn việc “tề gia, trị quốc” là nhiệm vụ của đấng mày râu. Vì vậy, ở nhiều thời đại, phụ nữ chỉ cam chịu để làm tròn bổn phận của mình.

Tuy nhiên trong lịch sử dân tộc, đã có nhiều tấm gương nữ nhi làm nên việc lớn. Đoàn Thị Điểm nổi

huynh thi bao hoa nguoi phu nu khong cam chiu phan i
Huỳnh Thị Bảo Hòa

tiếng với bản dịch “Chinh phụ ngâm”, bà huyện Thanh Quan với những áng thơ yêu nước, Hồ Xuân Hương: “Ví đây đổi phận làm trai được - Thì sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu…”. Sang đến thế kỷ XX thì người phụ nữ Việt Nam không chỉ làm thơ mà còn làm báo, họ đã chứng tỏ được vị trí của mình trên văn đàn và trên cả nghiệp báo. Một trong những gương mặt nổi tiếng ấy là Huỳnh Thị Bảo Hòa.

Huỳnh Thị Bảo Hòa có tên thật là Huỳnh Thị Thái, sinh năm l896, ở Đa Phước, xã Hòa Minh, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc Đà Nẵng). Thân sinh bà là cụ Huỳnh Phước Lợi, thân mẫu là Bùi Thị Trang. Cụ Lợi nguyên là võ quan triều Nguyễn, đã từng tham gia hội Cần Vương ở Quảng Nam. Chính vì được sinh trưởng trong một gia đình gia giáo, yêu nước nên bà đã sớm trở thành người phụ nữ có khí tiết và tiến bộ nhất trong giới phụ nữ lúc bấy giờ.

Huỳnh Thị Bảo Hòa lúc nhỏ học chữ Hán, sau học chữ Quốc ngữ và chữ Pháp. Bản tính thông minh từ bé, lại được sự giáo dục chu đáo, cẩn trọng của gia đình nên từ suy nghĩ, cách sống, cách hành động của bà được xem như là mẫu mực của người phụ nữ ở địa phương. Đến lúc trưởng thành, bà đẹp duyên cùng Vương Khả Lãm (Hàn lâm viện đại học sĩ), từ đây bà theo chồng về ở Đà Nẵng.

Từ một thôn nữ sống ở quê, bỗng chốc phải từ giã đường xưa lối mòn để trở thành một phu nhân nơi đất khách quê người, nhưng bà chẳng hề lạc lõng, đã sớm thích nghi với lối sống thành thị và đặc biệt sớm thích nghi theo tinh thần Duy Tân của các phong trào yêu nước phát động thời ấy.

Năm 1945, sau khi cách mạng tháng 8 thành công, bà vẫn tiếp tục hoạt động ở Hội Phụ nữ Đà Nẵng, cho đến lúc toàn quốc kháng chiến. Sau một thời gian ngắn tản cư, cả ông bà đều về lại Đà Nẵng sống tại ngôi nhà số 18, 20 đường Phan Châu Trinh - Đà Nẵng với con gái út.

Năm 1945 nước nhà thống nhất, bà ra Hà Nội thăm bạn bà ngày trước rồi trở về Đà Nẵng .Vài năm trước khi qua đời bà bị hỏng mắt.

Bà mất ngày 8-5 - 1982 tại nhà riêng .

Đối với Huỳnh Thị Bảo Hòa, việc đến với con đường làm báo có nhiều nguyên nhân.

Thứ nhất: Bà được sinh ra và lớn lên trong một gia đình nề nếp, gia giáo. Vì vậy bà mau chóng tiếp thu được truyền thống tốt đẹp của gia đình, làm nền tảng cho những tư tưởng tiến bộ của bà.

Thứ hai: Bẩm sinh bà đã có tư chất thông minh, ham học hỏi, bản lĩnh kiên cường, đó là những tố chất cần thiết của người làm báo đã sớm hội tụ trong bà.

Thứ ba: Hoàn cảnh xã hội là một tố nhân quan trọng.

Từ khi theo chồng ra chốn thị thành, sẵn có bản lĩnh và trí tuệ, lại được tiếp thu với các tư tưởng văn minh, bà đã nhanh chóng chịu ảnh hưởng và muốn làm một cái gì đó chứng tỏ cho vai trò của phụ nữ và đòi quyền lợi cho phụ nữ. Bà đã đến với phong trào Duy Tân, đến với các hoạt động xã hội thiết thực và đến với con đường làm báo.

Những năm đầu thế kỷ XX ấy, rất ít phụ nữ làm báo. Huỳnh Thị Bảo Hòa là một trong những thế hệ nữ nhà báo đầu tiên ở Việt Nam. Sánh ngang cùng các đấng mày râu, cùng với những cây bút đương thời, bà đã nhận làm thông tin viên cho Thực nghiệp dân báo (Journal, quotidien Hà Nội), đồng thời viết cho nhiều tờ báo khác như Nam Phong (Hà Nội), Tiếng Dân (Huế), Đông Pháp thời báo, Phụ nữ tân văn (Sài Gòn).

Tiếng Dân là tờ báo đầu tiên ở miền Trung và có thời gian tồn tại lâu nhất ở thời kỳ đó (1927- 1934) do nhà chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng đồng sáng lập và trực tiếp làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Ngày 10-8 - 1927, số báo đầu tiên của Tiếng Dân được xuất bản. Thời gian đầu, Tiếng Dân ra mỗi tuần một kỳ, sau đó tăng lên mỗi tuần 3 kỳ và cuối cùng trở về 2kỳ/tuần. Trụ sở của Tiếng Dân đóng tại Đông Ba- Huế. Bên cạnh một số người quản lý tờ báo, Tiếng Dân còn quy tụ nhiều nhân sĩ, trí thức cộng tác như Phan Bội Châu, Đào Duy Anh, Lê Nhiếp, Nguyễn Quý Hương và nhà báo nữ tiêu biểu Huỳnh Thị Bảo Hòa… Tiếng Dân là tờ báo luôn đứng bên cạnh nhân dân, lên tiếng đấu tranh với chính quyền thực dân. Ngoài những nội dung chính trị, Tiếng Dân còn đề cập khá phong phú đời sống xã hội, từ đời sống thiếu thốn, đày ải của người tù chính trị Côn Đảo, Sơn La đến vấn đề tự do ngôn luận. Tờ báo còn có nhiều bài nói lên chính kiến của mình về lịch sử, văn hóa và thơ ca. Các mục văn vần, tự do diễn đàn rất được bạn đọc hoan nghênh. Tiếng Dân còn là diễn đàn tranh luận về nhiều vấn đề nóng bỏng của xã hội.

Huỳnh Thị Bảo Hòa là một cây bút có tên tuổi trên báo Tiếng Dân. Trên tờ báo Tiếng Dân số 1618 ra ngày 4/10/1941 đã ca ngợi bà: “không cần nói đâu xa, chính là các chị Bảo Hòa, chị Nga, chị Khiêm… trước kia cũng vang danh trên mặt báo (Nguyễn Tùng Lương :Phải chăng một nghề mà chị em ta không nên theo đuổi :Nghề làm báo)”.

Tỉếp sau đó, Trịnh Bá Đĩnh và Nguyễn Hữu Sơn cũng đã ca ngợi bà trên tạp chí Tri Ân: Đạm Phương sử nữ và Huỳnh Thị Bảo Hòa trên tờ Tiếng Dân, Vân Anh trên Phụ nữ Tân Văn đã dần dần đi vào con đường quốc gia. Đó là vì từ năm 1929, luồng gió “chính trị” đã bắt đầu đổi thay ở xứ này, nữ giới như mới tỉnh dậy sau cơn đại mộng để chia sẻ gánh nặng với đấng mày râu.

Nam Phong tạp chí là một tờ nguyệt san xuất bản tại Việt Nam từ tháng 7 năm 1917 đến tháng 12 năm 1934 thì bị đình bản, tồn tại được 17 năm và xuất bản được 210 số. Tạp chí Nam Phong do Phạm Quỳnh làm chủ nhiệm kiêm chủ bút.

Tạp chí Nam Phong ra đời nhằm hai mục đích chính. Một là dùng chữ quốc ngữ để diễn tả, giải thích các tư tưởng, học thuật Âu - Á để mang những kiến thức này đến cho những người không biết tiếng Pháp hoặc chữ Nho. Hai là nâng cao trình độ chữ Quốc ngữ thành một ngôn ngữ so sánh được với tiếng Pháp và chữ Nho.

Để thực hiện được hai mục đích trên, nhóm biên tập của tạp chí Nam Phong bao gồm những cây bút có tên tuổi đã tiến hành khảo cứu và viết bài về triết học, khoa học, văn chương, lịch sử của Á Đông và Âu Tây; đăng những sáng tác đương đại: truyện ngắn, du ký, tùy bút…; dịch các tác phẩm triết học, văn học từ tiếng Pháp hoặc chữ Nho; sưu tầm và đăng tải thơ văn cổ của Việt Nam, kể cả thơ chữ Nho và tiếng Nôm ; in lại các sách cũ của Việt Nam, như bộ Lịch triều hiến chương loại chí…

Tạp chí Nam Phong ra đời lúc đó đã có những ảnh hưởng rộng đến đời sống chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước ta. Theo Dương Quảng Hàm, tạp chí Nam Phong đã có ảnh hưởng trên hai phương diện.

Về đường văn tự, Nam Phong đã sáp nhập vào tiếng Việt nhiều danh từ triết học, khoa học mới. Về đường học vấn, Nam Phong đã phổ thông những điều yếu lược của học thuật Tây Âu, đồng thời diễn đạt những điều đại cương trong các học thuyết cổ của Á Đông như Nho học, Phật học… và bảo tồn những điều cốt yếu trong văn hóa Việt Nam xưa (văn chương, phong tục, lễ nghi).

Huỳnh Thị Bảo Hòa cộng tác đắc lực cho Nam Phong tạp chí ở chuyên mục du ký. Hiện nay nhà xuất bản Trẻ đã xuất bản tác phẩm Du ký Việt Nam. Đó là tập hợp những bài du ký của những cây bút nổi tiếng như Phạm Quỳnh, Đông Hồ, Mộng Tuyết , Huỳnh Thị Bảo Hòa…

Hoa Băng khi làm chủ bút cho Tạp chí Tri Ân, năm 1943 đã ca ngợi: … Từ khi có chữ quốc ngữ, chị em phụ nữ nắm được cái lợi khí ấy thường hay giãi bày tâm sự ý tưởng trên mặt báo chương. Nam Phong ra đời từ năm 1917 chính là dịp để nữ giới “khua chuông gióng trống trên văn đàn”. Cụm từ “khua chuông, gióng trống” chính là để nói đến nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa.

Huỳnh Thị Bảo Hòa là một gương mặt tiêu biểu trên Phụ nữ Tân văn. Những tác phẩm của bà chủ yếu tập trung vào chủ đề cổ vũ phụ nữ đứng lên đòi quyền bình đẳng, đề cao nhiệm vụ của phái nữ trong xã hội, đồng thời dạy phụ nữ làm tròn bổn phận của mình trong gia đình.

Cộng tác với các tờ báo, tạp chí lớn đương thời, các tác phẩm Huỳnh Thị Bảo Hòa để lại là một tài sản quý giá của văn học dân tộc, vì chính tác phẩm của bà ở thời điểm chữ quốc ngữ viết bằng mẫu tự La Tinh được nữ giới đem ra sử dụng để tường thuật, diễn tả tư duy, cổ động chị em giữ lấy thuần phong mỹ tục và phê phán, loại bỏ những hạn chế, những ràng buộc của chế độ phong kiến bất công với nữ giới trong sinh hoạt hàng ngày... khi xã hội còn nhiều thành kiến với phụ nữ, thì nội dung các bài viết của bà có khả năng cho bạn đọc ngày nay thấy được bản chất của bà, một người phụ nữ hiếu học, cầu tiến, yêu nước. Ngay trong bài phóng sự “Bà Nà du kí” chỉ là việc thuật lại một dịp gia đình bà thăm thú cảnh quan Bà Nà, nhưng rồi bà cũng gởi gắm trực tiếp cảm nghĩ của bà muốn cải tạo hiện trạng của nữ giới.

Huỳnh Thị Bảo Hòa là một người có tư tưởng tiến bộ nhất trong giới phụ nữ Đà thành lúc bấy giờ. Bà là người phụ nữ đầu tiên của Đà thành cắt tóc ngắn, đi xe đạp và làm báo. Tiếp thu những tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài đưa vào, lại là người ham hiểu biết, thích du lịch, khám phá những cảnh đẹp của quê hương đất nước. Vì vậy, những cảm xúc của bà về thiên nhiên đã được phản ánh trên những trang báo. “Bà Nà du ký” là tác phẩm có giá trị nhất của Huỳnh Thị Bảo Hòa. Tác phẩm được đăng trên tạp chí Nam Phong số 163, tháng 6 năm 1931.

Với những ưu thế tuyệt diệu, từ những năm đầu thế kỷ XX, người Pháp đã chọn Bà Nà là nơi nghỉ mát và xây dựng ở đây hàng trăm biệt thự, lâu đài. Khi lên thăm Bà Nà, Huỳnh Thị Bảo Hòa vừa là người ghi lại được những đặc điểm địa lý, lịch sử vừa ghi lại được những cảm xúc riêng của bà khi lên thăm núi Chúa.

Qua con mắt của Huỳnh Thị Bảo Hòa, cảnh Bà Nà hiện lên thật đẹp, vừa kỳ bí hoang sơ, vừa nguy nga tráng lệ. Ngòi bút của bà đã làm cho cảnh đẹp nơi đây hòa quện cùng những yếu tố địa lý, lịch sử.Vào thời đó, phụ nữ viết được những trang viết kỳ thú như vậy quả thực là hiếm.

Những trang viết của bà còn thể hiện khát vọng giải phóng phụ nữ.

“Phấn son tô điểm sơn hà

Làm cho tỏ mặt đàn bà nước Nam”.

(Còn tiếp)

Đỗ Hằng