Hướng đạo cho đời luôn có ích (phần I)

Cập nhật: 16:04 | 08/11/2018
Tại khu đô thị mới Trung Hòa – Nhân Chính có một con đường dài 1100m, rộng 40 m mang tên Hoàng Đạo Thúy. Hoàng Đạo Thúy là ai? Xin thưa, đó là một nhà giáo mẫu mực, một nhà quân sự có tài, một nhà báo, nhà văn có nhiều tác phẩm ra đời đúng lúc. Vừa có tâm, vừa có tài, ông được đánh giá là nhà văn hóa lớn của Việt Nam.
huong dao cho doi luon co ich phan i
Hoàng Đạo Thúy

Ngay từ khi còn rất trẻ Hoàng Đạo Thúy đã luôn nghĩ suy về dân tộc, về đất nước. Nỗi niềm tha thiết ấy không lúc nào không đau đáu trong lòng ông, để rồi trong gần một thế kỷ sống trên cõi đời, nhà văn hóa lớn đã có nhiều cống hiến vì dân, vì nước. Ngày 14 tháng 2 năm 1994, khi Hoàng Đạo Thúy mất, ông Đỗ Mười – Tổng Bí thư Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã viết: “Ông (Hoàng Đạo Thúy) là nhà hoạt động văn hóa có nhiều công lao trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập tự do của Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng khẳng định: “Anh Thúy đối với tôi là một ngời bạn chiến đấu thân thiết từ những ngày trước tổng khởi nghĩa. Anh đã có cống hiến xứng đáng với quân đội non trẻ của chúng ta. Anh đã dành những năm tháng trong cuộc đời trong sáng và thanh đạm của mình cho sự nghiệp cách mạng của quân đội, của nhân dân, của Đảng. Thương yêu đồng chí và đồng đội, gần gũi bạn bè, hết lòng dìu dắt thế hệ trẻ, anh đã hoàn thành sứ mạng trên mọi cương vị …”

Hoàng Đạo Thúy sinh ngày 21/9 năm Canh Tý tức 12/11/1900 tại làng Kim Lũ – Thanh Trì - Hà Nội mảnh đất vốn ươm khá nhiều nhân tài cho đất nước. Phụ thân ông, cử nhân Hoàng Đạo Thành từng làm đến Tri phủ sau cáo quan về ở ẩn viết sách. Là tác giả của các tác phẩm : “Đại nam hạnh nghĩa liệt nữ truyện”; “Việt sử Tân ước toàn biên”… Anh trai ông, cử nhân Hoàng Đạo Phương, một thương gia có tài kinh doanh ở Hà Nội; chị gái ông “bà cả Mọc” người nổi tiếng cả Hà Nội về làm từ thiện. Sinh ra trong một gia đình ba đời làm giáo học, họ hàng, anh em đều là những người học hành, đỗ đạt làm ăn phát đạt nhưng luôn coi trọng đạo lý nên ngay từ khi còn rất trẻ Hoàng Đạo Thuý là người có chí hướng, một lòng yêu nước, thương nòi nên ông không ngừng trau dồi, học tập và hoàn thiện bản thân theo triết lý nho gia.

Một thầy giáo mẫu mực.

Hoàng Đạo Thuý từng là thầy giáo dạy học tại các trường tiểu học Pháp - Việt; trường tiểu học Sinh Từ, trường Yên Thành. Vừa nhiệt tình vừa có tâm lại có tài ở đâu ông cũng được học sinh quí mến, nhân dân trong vùng kính trọng. Dân làng “Thập tam trại” (13 trại phía tây thành Thăng Long - vùng phía đông Hồ Tây ngày nay) ai cũng kính cẩn gọi ông là “ông giáo Thúy” với một niềm tự hào và nể trọng. Năm 1925 ông làm quen với phong trào Hướng đạo qua cuốn sách “Eclaireurs de France” (Hướng đạo sinh Pháp). Đây là một tổ chức của thanh, thiếu niên do trung tướng quân đội Hoàng gia Anh Robert Badon Powell sáng lập năm 1907 sau phát triển thành phong trào hướng đạo thế giới (World organization of the Scout movement). Năm 1930 phong trào này du nhập vào Việt Nam.

Mục đích của phong trào hướng đạo là giáo dục bổ túc cho gia đình và học đường giúp thanh thiếu

huong dao cho doi luon co ich phan i

niên rèn luyện chí khí, bản lĩnh, tháo vát, để có thể thích nghi với mọi hoàn cảnh, chuẩn bị điều kiện để trở thành những công dân tốt, có trách nhiệm, biết trọng danh dự, hữu ích cho xã hội. Phong trào Hướng đạo Việt Nam được thành lập cũng theo đuổi những mục đích chung đó. Từ “đạo” trong cụm từ “hướng đạo” có nghĩa là “đường” “Hướng đạo” có nghĩa là “dẫn đường”. Khái niệm này không liên quan đến một tôn giáo, tín ngưỡng nào. Thành viên các đơn vị hướng đạo không phân biệt tôn giáo, đảng phái tầng lớp dân cư. Từ lúc thành lập năm 1930 hướng đạo Việt Nam đã trải qua nhiều giao đoạn, thu hút rất đông thanh thiếu niên, trí thức trong đó có nhiều nhân vật có ảnh hưởng lớn tới xã hội sau này: Tạ Quang Bửu, Trần Duy Hưng, Lưu Hữu Phước, Tôn Thất Tùng, Phạm Ngọc Thạch… Hoàng Đạo Thúy giữ nhiệm vụ Tổng Ủy viên của Hội Hướng đạo Bắc Kỳ. Vừa làm, vừa rút kinh nghiệm ông đã viết hai cuốn sách “Hướng đạo đoàn”; “Đội của tôi” với bút danh Ba Tô. Là người đứng đầu một tổ chức xã hội tự nguyện Hoàng Đạo Thúy luôn gương mẫu về mặt tu thân, tư cách chững chạc, luôn ngẩng cao đầu đối phó với sự o ép hoặc mơn trớn, lấy lòng của bọn thống trị Pháp, Nhật.

Với kiến thức vừa rộng vừa sâu cả về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, ông luôn tìm ra hình thức khuyến khích, giáo dục nhân dân đặc biệt là thanh niên đi theo con đường yêu nước. Có thời kỳ ông lên Quảng Uyên (Cao Bằng) dạy học ông đã rất thương quí và luôn động viên các em học sinh người dân tộc thiểu số. Có một câu chuyện mà sau này mỗi lần nhắc lại học trò của ông vẫn rưng rưng. Trong số học sinh của ông có Đinh Văn Rung, ngưòi chỉ học ông có một năm mà Rung ghi nhật ký đã nguyện suốt đời học tập tấm gương của thầy, Rung còn rèn chữ viết cho giống hệt chữ của thầy. Mùa Đông năm 1950 hai thầy trò gặp nhau trong chiến dịch biên giới, thấy anh học trò mặc tấm áo mỏng manh giữa trời đông giá rét, ông đã cởi áo khoác choàng cho anh. Cả nhà anh Rung cảm động gọi ông là “Ông nội”. Một đời trồng người, ông không chỉ mẫu mực trên lớp học, ông còn viết văn, viết báo, mong chuyển tải những ý tưởng của mình đến với nhiều người nhất với ước muốn sao cho Việt Nam có tên trên bản đồ thế giới. Phải tâm huyết với nghề lắm nên trong những năm dạy học, ông mới viết được những tác phẩm: Nghề thầy (1944 – NXB Thời Đại); Trò chơi rèn luyện (1975 – NXB Thể Dục Thể Thao); Công dân giáo dục xuất bản tại chiến khu Việt Bắc năm 1949. Hoàng Đạo Thúy luôn kiên trì quan điểm “giáo dục vị nhân sinh”. Theo ông “một nền giáo dục vững vàng phải là một nền giáo dục vị nhân sinh” chứ không phải một nền giáo dục vị học thuật.

Năm 1995, nhân giỗ đầu nhà giáo Hoàng Đạo Thúy, nhà xuất bản Lao Động đã tái bản tác phẩm “Nghề thầy” với lời giới thiệu của nhà giáo nhân dân Hoàng Thiếu Sơn. Quan điểm, triết lý của ông về giáo dục từ những năm 40 của thế kỷ trước, đến nay khi đọc ta vẫn thấy tính hiện đại của nó. Ngay trong lời phi lộ ông đã xác định tính chất nghề thầy “không quản gì đồng lương, không nhìn đến chỗ ngồi”… Không phải chỉ đi làm công, chúng ta “làm thầy”. Và một câu kết thật khảng khái, nhân văn: “Thanh niên hư hại, rồi quốc dân kém sút, chúng ta cùng suy xem như thế thì nhà giáo có thể tránh được tội với Tổ quốc không?” Chỉ chấm phá thế thôi cũng đủ thấy ông là một nhà giáo chân chính theo đúng nghĩa của nó.

HPT