Dương Thị Xuân Quý: “Ta đi làm ánh sao băng giữa đời”

Cập nhật: 08:59 | 16/10/2018
Có một sự trùng hợp khá ngẫu nhiên, đó là trên mảnh đất Quảng Nam anh dũng có hai người phụ nữ quê ở miền Bắc đã kiên cường bám trụ và anh dũng hy sinh ở tuổi 28. Đó là Anh hùng liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm và nữ liệt sĩ nhà báo Dương Thị Xuân Quý.
duong thi xuan quy ta di lam anh sao bang giua doi
Nữ liệt sĩ nhà báo Dương Thị Xuân Quý

Mỗi người một vẻ, song cả hai người phụ nữ nổi tiếng này đều là những tấm gương sáng cho thế hệ sau về lòng dũng cảm, về tình yêu Tổ quốc và con người. Sự nghiệp và tâm hồn của các chị sống mãi với đất nước, non sông.

Dương Thị Xuân Quý sinh ngày 19.4.1941 tại Hà Nội (quê gốc vốn ở Châu Giang - Hải Dương) trong một gia đình trí thức yêu nước. Ngôi nhà 195 Hàng Bông, Hà Nội nơi Dương Thị Xuân Quý sống những năm tháng thơ ấu, đã mang đậm không khí báo chí, văn chương. Từ 1941 đến 1945, đây là báo quán tạp chí “Tri tân” nơi qua lại của nhiều trí thức tên tuổi như Nguyễn Văn Tố, Trần Văn Giáp, Hoàng Thúc Trâm, Nguyễn Tường Phượng, Nguyễn Huy Tưởng, Chu Thiên… Chính nơi đây, vào các năm 1932 - 1934 là trụ sở tờ “Văn học tạp chí”. Xuân Quý được sinh ra và lớn lên đã được tắm mình trong không khí sôi động của báo chí. Ông nội chị, cụ Dương Trọng Phổ, từ rất sớm đã vận động cho Đông Kinh nghĩa thục, bị thực dân Pháp đày ra Côn Lôn. Thân phụ của chị, ông Dương Tụ Quán, là một nhà giáo tận tâm. Cụ dạy học ở Hải Phòng, đã có học trò về sau trở thành nhà văn nổi tiếng như Nguyễn Huy Tưởng. Từ dạy học chuyển sang làm báo, ông đã dành tâm sức cho tờ “Văn học tạp chí” rồi tạp chí “Tri tân” của ông Nguyễn Tường Phượng. Bác ruột của Dương Thị Xuân Quý, ông cử Dương Bá Trạc, một trí thức tham gia phong trào Duy tân yêu nước chống Pháp, vừa tham gia tích cực trong Đông Kinh nghĩa thục vừa viết báo, viết văn. Sau khi đàn áp Đông Kinh nghĩa thục, thực dân Pháp mời ông làm tri huyện, nhưng ông từ chối và tiếp tục chống Pháp, bị chúng đày đi đảo Côn Lôn trước cụ Dương Trọng Phổ ít ngày. Một người bác ruột nữa của Dương Thị Xuân Quý là nhà nghiên cứu văn hóa uyên bác Dương Quảng Hàm, một chí sĩ luôn đau đáu vì vận nước.

Những năm tháng thời niên thiếu, Dương Thị Xuân Quý theo gia đình tản cư lên căn cứ địa Việt Bắc. Xuân Quý tham gia lao động giúp gia đình kiếm sống, làm nhiều việc: xay lúa, giã gạo, làm hàng xáo lấy cám nuôi lợn, chăn dê, kiếm củi… Xuân Quý được cha dạy học chữ ở nhà, 7 tuổi biết chữ và thích ghi nhật ký. Tháng 10.1954, khi đã 13 tuổi, về Hà Nội, Dương Thị Xuân Quý mới được cắp sách tới trường, học trường tiểu học Lý Thường Kiệt, rồi trường Trưng Vương. Với lòng yêu văn chương và hăm hở muốn sớm lao vào thực tế đời sống, chị đăng ký đi học lớp trắc địa trường trung cấp mỏ ở Quảng Ninh - một ngành học cho tới lúc đó hầu như không phải là chỗ dành cho phái yếu. Chị vừa học vừa làm cộng tác viên cho báo Tiền phong. Sau đó, chị được học lớp bồi dưỡng tại khoa Báo chí trường Tuyên giáo trung ương (nay là Học viện Báo chí và Tuyên truyền). Ra trường, chị về công tác tại báo Phụ nữ, làm phóng viên chuyên viết về nông thôn. Tháng 4.1968, Dương Thị Xuân Quý lên đường đi chiến trường miền Nam, gửi lại con gái đầu lòng và duy nhất mới 16 tháng tuổi cho mẹ già nuôi dưỡng. Trước đó, năm 1967 chồng chị, nhà thơ Bùi Minh Quốc đã vào chiến trường.

Sau ba tháng hành quân vượt Trường Sơn, tháng 7.1968, Xuân Quý có mặt tại chiến trường Trung Trung Bộ, thân gái đương đầu với thử thách nơi chiến trường ác liệt. Theo hồi ức những người từng công tác và chiến đấu với chị, bom đạn, đói ăn, sốt rét, chị và đồng đội đều vượt qua một cách dễ dàng, chỉ nỗi nhớ con là thử thách ghê gớm nhất. Thử thách này đã thể hiện một phần trong những trang Nhật ký Trường Sơn của chị.

Ngày 19.12.1968, Dương Thị Xuân Quý rời căn cứ miền núi đi xuống đồng bằng Quảng Đà - vùng chiến trường trọng điểm. Trong nỗi thiếu đói triền miên ở căn cứ, dưới mưa rừng xối xả bên bến Giằng, trong tiếng pháo dập bom gầm ở Bình Dương (Thăng Bình), Xuyên Tân (Duy Xuyên), giữa hai cơn sốt rét, hở lúc nào là chị tranh thủ đặt cuốn sổ lên đầu gối ghi chép, sáng tác. Ngoài những tác phẩm báo chí chị còn cho ra đời các truyện ngắn “Hoa rừng”, bút ký “Tiếng hát trong hang đá”, “Niềm vui thầm lặng”, “Gương mặt thách thức” (với bút danh Dương Thị Minh Hương). Những ngày cuối cùng của đời chị được anh Trần Mậu Tý, cán bộ Ban Tuyên huấn mặt trận Quảng Đà, kể lại: “Chúng tôi từ Xuyên Hòa vượt đường quốc lộ số 1 xuống tới thôn 2 Xuyên Tân đêm 3.3.1969. Tôi bảo chị Quý, ngày mai tôi đưa chị xuống Hồng Triều vùng ven biển, xa địch, kiếm thực phẩm bồi dưỡng ít ngày. Chị Quý nói, được, nhưng để tôi ở đây mấy ngày viết cho xong cái ký dở dang về Xuyên Hòa đã. Chị ở trong căn hầm tránh pháo của Ban Tuyên huấn Duy Xuyên cùng cô Một, nhân viên văn thư, và viết; viết, dưới ánh sáng của cây đèn tự tạo bằng ve dầu măng nhỏ xíu. Không ngờ, sáng 6.3 địch ném bom, bắn pháo dữ dội, chúng dọn bãi và khoảng 10 giờ ào ạt đổ quân. Chúng tôi ra hầm bí mật. Chia ra xuống hai hầm khác nhau, bên này và bên kia cái ao trong vườn nhà ông Cảnh. Bọn lính Đại Hàn kéo tới. Một chiếc xe bọc thép dùng làm chỉ huy sở của chúng, đứng trấn ngay trên nền cũ nhà ông Cảnh, cách hầm chị Quý chỉ năm sáu mét. Chúng nó cho xe cày trốc cả xóm, ngồi dưới hầm nghe đất rung như đưa võng. Không tìm cách thoát ra thì phần chắc là sẽ bị xe ủi nó nghiền bẹp dí dưới lòng đất. Đêm 7.3 hầm bên tôi mấy anh em cùng nhau giở nắp bò ra thoát được. Vì cách ao nên không thể nào lội sang báo cho bên hầm chị Quý cùng đi.

Khoảng 9 giờ đêm 8.3.1969, từ căn hầm bí mật bên bờ ao đó, Dương Thị Xuân Quý cùng bốn chiến sĩ du kích và vũ trang tuyên truyền địa phương mở nắp hầm lặng lẽ bò ra, cố thoát khỏi vòng càn quét của giặc. Nhưng không may, người đi trước vướng phải một trái mìn sáng. Ba người đi trước: Hải, Mười, Quý nhảy xuống một cái giếng đất. Địch xông tới bắn, Dương Thị Xuân Quý trúng đạn. Anh Hải - người đứng ngay cạnh Quý, bị thương. Anh Mười kịp quăng lên một trái lựu đạn. Địch chết một số, còn lại dạt ra. Mười cõng anh Hải chạy thoát”.

Anh Hải, anh Mười kể lại: “Lúc ở dưới hầm, chị Quý rất bình tĩnh, dù lần đầu tiên chị rúc hầm bí mật. Khi chuẩn bị lên, chị gói ghém đồ dùng trong chiếc gùi để lại, chỉ đem theo người cuốn sổ bìa xanh”. Cuốn sổ bìa xanh ấy là một trong hai cuốn mà báo “Văn nghệ” tặng cho anh chị Bùi Minh Quốc - Dương Thị Xuân Quý trước ngày chị đi B. Vậy là tới phút cuối cùng, Xuân Quý vẫn không rời vũ khí. Chị ngã xuống khi mới 28 tuổi đời. Xuân Quý là một con người có lý tưởng và luôn luôn sống vì lý tưởng cao đẹp đó.

duong thi xuan quy ta di lam anh sao bang giua doi

Những ngày tháng làm phóng viên chuyên viết về nông thôn, chị không ngại khó ngại khổ, lăn lộn với cuộc sống thực tế, phản ánh sinh động khí thế lao động của nhân dân. Chỉ với chiếc xe đạp lọc cọc, chị thường xuyên có mặt ở khắp nơi trên làng quê miền Bắc. Từ Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên cho đến Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh - những miền quê chưa thoát được đói nghèo, bắt đầu đi vào hợp tác hóa, đang cố tìm kiếm lấy con đường ấm no. Chị về nông thôn không phải chỉ như một cô nhà báo với cuốn sổ và cây bút trong tay, gặp người này người nọ, hỏi và ghi, rồi đi. Chị về đó như một con người tìm đến những con người, sống đời sống của người nông dân chân lấm tay bùn một nắng hai sương, chia sẻ từng niềm vui, nỗi khổ với một chị đội trưởng đội sản xuất, một cán bộ kỹ thuật, một cô bí thư xã đoàn, một anh chủ nhiệm hợp tác xã… Mang thai đứa con đầu lòng đến tháng thứ sáu, chị vẫn lặn lội về Quảng Nạp (Thái Bình), đi cấy với chị em xã viên. Bà con Quảng Nạp ngày ấy cứ lấy làm ngạc nhiên trước một cô gái Hà Nội mà cũng biết cấy như mình.

Chị và anh Bùi Minh Quốc, đôi bạn văn chương thường nhắc đến hai nhà văn thuộc thế hệ đàn anh mà sự dấn thân vì nghĩa lớn, đó là: Nam Cao và Trần Đăng. Đối với một người viết trẻ đang hăm hở chuẩn bị cho những trang viết tương lai, thì sự chuẩn bị nào cấp thiết hơn cả? Nam Cao và Trần Đăng đã hiện như một lời chỉ đáp: làm người. Trước hết phải làm người có đạo đức và nhân cách. Và Dương Thị Xuân Quý đã hành động như các bậc tiền bối, dấn thân vào cuộc kháng chiến của dân tộc với ý chí và lòng quả cảm của một trái tim đầy nhiệt huyết. Dương Thị Xuân Quý hy sinh khi mới tròn 28 tuổi, tác phẩm báo chí và văn chương chị để lại không nhiều nhưng cũng đủ để cho ta biết về suy nghĩ, tình cảm và mơ ước của chị.

Ngoài viết báo, chị còn làm thơ, viết truyện ngắn, ký sự… Các bài thơ chị viết tặng bé Ly - con gái yêu của mình bằng tất cả nỗi nhớ mong và tình cảm của người mẹ xa con. Các truyện ngắn nổi tiếng của chị được nhiều bạn đọc đón nhận. Đó là truyện ngắn Hoa rừng, bút ký Tiếng hát trong hang đá, Niềm vui thầm lặng, Gương mặt thách thức, những trang Nhật ký Trường Sơn…

Trong dòng chảy của cuộc đời, bước ngoặt định hướng cho chị gắn bó cuộc đời với nghề báo là sự kiện chị rời Quảng Ninh về học khoa Báo chí trường Tuyên giáo trung ương. Đó là khóa báo chí đầu tiên được mở sau ngày tiếp quản Thủ đô. Chị bước vào cuộc đời làm báo như một sự lựa chọn tự nhiên của tuổi trẻ nhiệt thành vì độc lập và tự do, tiếp nối truyền thống vẻ vang của gia đình.

Tháng 2 năm 1961, chị về công tác tại báo Phụ nữ Việt Nam, làm phóng viên chuyên viết về nông thôn. Sau đó, Dương Thị Xuân Quý đi chiến trường làm phóng viên tạp chí Văn nghệ giải phóng Trung Trung Bộ. ở chiến trường đầy gian khổ, hy sinh mà chị không nản lòng, luôn lạc quan để sống và viết.

Có lẽ cũng chính lòng nhiệt thành đó đã đưa chị đến với con đường báo chí với ý nghĩa đích thực, để cống hiến hết mình vì đất nước, vì nhân dân.

Những ngày đầu đi làm báo, chị đã chứng kiến một miền quê nghèo bắt đầu đi vào hợp tác hóa, đang cố vươn mình tìm tới cuộc sống ấm no. Ở nội dung này, Dương Thị Xuân Quý thể hiện rất phong phú và hấp dẫn bằng chất “sống”, chất thực tế. Bởi chị đã tìm đến các làng quê, mọi ngõ ngách của đời sống. Trong các tác phẩm của chị, người ta luôn thấy những cảnh bà con xã viên lao động với không khí đông vui náo nhiệt, với tinh thần nhiệt tình và hăng say. Rồi những tên đất, tên làng cụ thể cũng đi vào các tác phẩm của chị một cách rất tự nhiên như: Vạn Mỹ - Đông Hải - Hải An - Hải Phòng, thôn Bùi ở Hà Nam, Thanh Oai - Hà Tây, Móng Cái - Quảng Ninh…. Những con người cũng vậy. Họ hiện lên chân chất và hồn hậu lạ thường. Đây cũng là lời ca ngợi công ơn của Đảng với đường lối đúng đắn trong thời kỳ xây dựng cuộc sống mới. Trong các tác phẩm của Xuân Quý, người phụ nữ luôn là tâm điểm.

Họ là những con người của thời đại mới, làm chủ cuộc sống. Những chị Na, chị Thỏa, chị Khếnh… thật đáng tự hào, họ đã mang về những làn gió mới cho cuộc sống. Dường như ẩn chứa trong những hình tượng đó còn là một quan niệm mới, một tiếng nói mới đầy cá tính về người phụ nữ. Đó là tiếng nói phản kháng quan niệm cũ xưa của chế độ phong kiến. Khẳng định vai trò và vị trí làm chủ cuộc sống của người phụ nữ hiện đại. Chị thường xây dựng hình tượng người phụ nữ để qua đó gửi gắm những thông điệp của mình. Hình tượng người phụ nữ trong truyện ngắn, bút ký của chị như một hình tượng nghệ thuật cứ trở đi trở lại. Các chị đều là những người phụ nữ đảm đang, những con người sáng tạo nhiệt tình, những người chủ thực sự của tương lai.

Mỗi truyện ngắn hoặc bút ký của Xuân Quý thường được bắt đầu bằng một khung cảnh quen thuộc. Đó là khung cảnh lao động khẩn trương tấp nập của bà con xã viên, lúc là cảnh gánh phân, lúc là cảnh những tốp người tỏa ra đồng vào những buổi sớm tinh sương để gặt lúa, khi lại là cảnh bà con đào kênh xẻ rãnh đưa nước vào đồng… Tất cả hiện lên phong phú mà chân thực. Gắn với mỗi câu chuyện là một làng quê mà ở đâu cũng thấy thân quen như chính quê hương mình. Và chúng ta bắt gặp trong những trang viết của chị những gian khổ, hy sinh của thời chiến tranh, nỗi đau chia ly, mất mát đã tôi luyện bản lĩnh con người vì lý tưởng độc lập, tự do và thống nhất đất nước. Nhớ chị, nhớ những trang viết của chị là chúng ta nhớ tới một thời hào hùng của dân tộc. Tự hào với quá khứ cũng là niềm tin để chúng ta vững bước tới tương lai. Chị đã từng tâm sự trong Nhật ký Trường Sơn: “Còn nếu ta vẫn nguyên vẹn nhiệt tình và sức sống thì không có một thế lực nào, một sự tàn nhẫn nào, một khó khăn nào khiến ta chùn bước, khiến ta gục ngã”. ý chí ấy của chị vẫn nguyên giá trị trong cuộc chiến đấu vì ấm no, hạnh phúc hôm nay. Dấn thân vào kháng chiến vì độc lập, tự do của dân tộc, sống ở giai đoạn cả nước một lòng đứng lên đánh đuổi quân xâm lược, chị từng tâm sự: “đáng sợ nhất là lòng ta nguội lạnh” và chị tự nguyện “Ta đi làm ánh sao băng giữa đời”

Thái Hà