Đạm Phương Nữ sử nữ kí giả việt nam tiên phong đấu tranh về sự tiến bộ của phụ nữ (Phần II)

Cập nhật: 17:00 | 15/10/2018
Thời ấy, tuyệt đại đa số phụ nữ Việt Nam mù chữ, không được học hành, bị khinh rẻ, bị chà đạp, nên ngòi bút của Đạm Phương tập trung hướng về giải phóng phụ nữ, đấu tranh cho phụ nữ được bình quyền, bình đẳng với nam giới.

Ngay từ những năm hai mươi của thế kỷ XX, nhiều bài viết của bà đã thể hiện quan điểm mới mẻ và tầm nhìn sâu rộng. Trong bài Bàn về giáo dục con cái trên tờ Trung Bắc tân văn, bà viết: “Giáo dục phụ nữ là một vấn đề rất quan hệ cho một dân tộc tương lai. Phải giáo dục cho họ có cái gì làm chuẩn đích để sau này ra đời họ biết đạo xử thế. Vì cuộc đời như một cái bể rộng mênh mông mà cuộc đời mỗi con người như con thuyền đi trên mặt nước, có vững tay lái chèo mới mong lướt sóng ra khơi, gặp khi ba đào phong vũ cũng biết tìm thoan máy mà đỡ gạt theo phương hướng đúng mà đi. Chiếc thuyền kiên cố, lái chèo vững vàng là sự mạnh dạn, là học thức rộng rãi để đảm đương sự đời”.

Trong chuỗi bài báo của Đạm Phương từ năm 1918 đến 1929 có thể thấy nhiều bài phản đối mạnh mẽ sự bất bình đẳng, trói buộc tự do, dân chủ. Trước hết bà phủ định lễ giáo phong kiến, chỉ ra sự hà khắc, coi người phụ nữ như nô lệ, và thẳng thắn bộc lộ chính kiến: “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, bắt người đàn bà thủ tiết thời chồng khi chồng chết, hạn chế học hành của phụ nữ đều phải vứt bỏ cùng với tam tòng tứ đức”. Đề tài này còn trở lại trong lời phi lộ cho số ra mắt tờ Phụ nữ tùng san, tháng 5/1929. Trong bài viết, Đạm Phương phân tích, lên án những điều phi lý, bất công chế độ phong kiến áp đặt cho người phụ nữ, rằng “phụ nữ không được học hành nhiều vì chỉ có bổn phận sinh con đẻ cái, cơm nước, quanh quẩn trong nhà”. Tuy đấu tranh quyết liệt đòi vứt bỏ những quy tắc phi nhân bản, bất bình đẳng đối với phụ nữ, nhưng Đạm Phương không bao giờ quên lưu ý phụ nữ, trẻ cũng như già, phải thực hiện tốt những chức năng gia đình. Trong bài Người đàn bà phải nên trông coi việc nhà đăng trên tờ Trung Bắc tân văn năm 1925, bà nhắc nhở phụ nữ cần tu rèn chữ ngôn sao cho “có sở ngôn thì cũng phải có sở hành”, rèn chữ kiệm ước làm đầu, rèn chữ nhân nghĩa sao cho trên thuận dưới hòa, rèn chữ công sao cho có nghề nghiệp nuôi sống mình và gia đình, rèn chữ hạnh sao cho toàn vẹn học vấn và hạnh kiểm mới nên danh giá.

dam phuong nu su nu ki gia viet nam tien phong dau tranh ve su tien bo cua phu nu phan ii

“Giáo dục phụ nữ là một vấn đề rất quan hệ cho một dân tộc tương lai”. Nhận thức rõ vai trò quan trọng của người mẹ trong quá trình hình thành nhân bản và phát triển thể chất của con trẻ, Đạm Phương Nữ Sử hết sức chú ý đến việc giáo dục người phụ nữ trước khi làm mẹ, bởi giáo dục phụ nữ và nhi đồng là hai giai đoạn nối tiếp trong một quá trình thống nhất mang tính nhân quả. Muốn giáo dục nhi đồng hiệu quả trước hết người phụ nữ phải được giáo dục làm mẹ hoàn thiện. Đây là một cách nhìn mới được Đạm Phương Nữ Sử đặt ra ngay từ những năm đầu thế kỷ mặc dù lúc ấy xã hội Việt Nam còn trong sự thống trị của nghĩa thực dân và phong kiến. Bà nhắc lại lời cổ nhân “Thập niên thọ mộc, Bác niên thọ nhân” (Mười năm trồng cây, trăm năm trồng người) để nhấn mạnh giáo dục nhi đồng là sự nghiệp lâu dài. Những phẩm chất tinh thần mà con người cần hướng tới hoặc tránh xa cũng được Đạm Phương chỉ đích danh trong các bài học dành cho các bậc cha mẹ: cần ngăn ngừa cho trẻ các thói xấu như tham lam, dối trá, tin nhảm…, cần rèn cho trẻ các tính tốt như lòng trung hậu, tính kiên nhẫn, lòng thương người…

Trên nhiều tờ báo thời ấy có thể tìm thấy nhiều bài viết đề cập đến nữ học của Đạm Phương. Bà phân tích lợi ích của việc học giúp cho người phụ nữ mở mang kiến thức, hiểu được đạo lý làm người để dạy bảo con cái, lo toan việc nhà và tham gia các công việc xã hội hữu ích. Xuất phát từ nhận thức đó, bà nhấn mạnh: “Nay vấn đề nữ học thật là một sự quan trọng nhất trong mấy ngàn năm của nước ta”.

Rất nhiều vấn đề trong đời sống người phụ nữ cũng đã được Đạm Phương Nữ Sử đề cập ở nhiều bài viết khác. Tình cảm đàn bà, Bàn về chữ ái tình, Tự do hôn nhân, Về nữ ngôn, Về quản lý tài chính, Giáo dục con gái, Cách dạy con… tác phẩm nào cũng cho thấy tư duy của bà khá phong phú và sâu sắc về chủ đề giáo dục phụ nữ, nhi đồng.

Song, điều đáng lưu ý hơn cả trong hàng loạt bài báo mang tính giáo dục phụ nữ của Đạm Phương là bà luôn nhấn mạnh đến bổn phận, nghĩa vụ, lương tâm và trách nhiệm của con người. Theo quan niệm của Đạm Phương, người phụ nữ có học thức cần phải có nghề nghiệp để có thể sống tự lập, không phụ thuộc vào chồng con, và cho rằng đây chính là cơ sở đầu tiên để tiến tới nữ quyền, bình đẳng với nam giới. Đạm Phương còn khẳng định, đóng góp cho xã hội là một nét đạo đức của người biết bổn phận và có lương tâm. Bởi vậy bà đã không ngần ngại kêu gọi, thúc đẩy nữ lưu đương thời mạnh dạn bước vào con đường học tập để có một nghề nghiệp, đồng thời phải hiệp lực xây dựng một tổ chức xã hội nhằm đoàn kết hết thảy mọi tầng lớp phụ nữ phấn đấu tiến bộ, tạo được chỗ đứng bình đẳng trong xã hội. Trong bài Muốn cho nữ lưu biết chức nghiệp, phải có học hội nữ công , bà viết: “Nước mình đàn bà con gái không phải không có óc thông minh, cũng không phải không có tài năng, song không biết cách cùng nhau mà mưu sự nghiệp hạnh phúc chung, làm cho sự nghiệp về đường nữ công là cái phận sự của mình, phải nên chăm chút để gây dựng một nền giáo dục hoàn toàn mới mong mở mặt mở mày với người ta”.

Ngoài viết báo, Đạm Phương Nữ Sử còn chọn dịch, giới thiệu trên báo chí hoặc xuất bản thành sách để phổ biến những công trình có giá trị về giáo dục phụ nữ và nhi đồng các nước trên thế giới như Gái trinh liệt, Gia đình giáo dục đàm (Trung Quốc); Dưỡng trẻ con, Trường trẻ con (Pháp), Vườn trẻ con (Đức), Nhà trẻ con (Ý)… Những tác phẩm này cung cấp nhiều kinh nghiệm quý báu cho người dân Việt Nam trong quá trình dưỡng dục thế hệ trẻ thơ.

Văn hóa dân tộc cũng được Đạm Phương dành thời gian nghiên cứu. Công trình Lược khảo về Tuồng hát An Nam của bà đăng trên tạp chí Nam Phong số 76, tháng 10 năm 1923 được coi là một trong hai công trình khảo cứu sân khấu dân tộc đầu tiên thể hiện bằng chữ quốc ngữ, và bà trở thành người phụ nữ Việt Nam đầu tiên khảo cứu sân khấu dân tộc. Bà cũng được coi là một trong những phụ nữ Việt Nam đầu tiên viết tiểu thuyết bằng chữ quốc ngữ. Nhà nghiên cứu Lê Thanh Hiền còn cho rằng Đạm Phương Nữ Sử mới đúng là cây bút nữ Việt Nam đầu tiên viết tiểu thuyết chứ không phải là nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa như các tài liệu vẫn ghi chép. Theo nghiên cứu của Lê Thanh Hiền, bi tình tiểu thuyết Kim Tú Cầu của Đạm Phương Nữ Sử được công bố lần đầu trên tạp chí Trung Bắc tân văn năm 1923, tác phẩm được in thành nhiều kỳ từ số ra ngày 25/5 đến số ra ngày 21/7, tiểu thuyết “Tây phương mỹ nhân” của Huỳnh Thị Bảo Hòa ba năm sau mới xuất bản, năm 1926.

Nghiên cứu văn phẩm của Đạm Phương Nữ Sử dễ dàng nhận thấy trong lịch sử phụ nữ Việt Nam,

dam phuong nu su nu ki gia viet nam tien phong dau tranh ve su tien bo cua phu nu phan ii

bà quả là nhân vật đi trước thời đại. Là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên thông thạo nhiều thứ tiếng do đó bà cũng là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên có tầm nhìn rộng mở, tiếp thu tinh hoa nhân loại và chuyển tải qua các phương tiện báo chí, văn học, dịch thuật, phổ biến cho đồng bào đất nước mình. Cũng qua di sản còn thấy Đạm Phương Nữ Sử là nữ tác gia dẫn đầu về số lượng tác phẩm được viết bằng nhiều thể loại xuất bản trước năm 1945. Đặc biệt hơn, bà còn là nữ trí thức Việt Nam đầu tiên quan tâm đến sự dưỡng dục thế hệ trẻ thơ từ khi lọt lòng mẹ đến tuổi cắp sách tới trường. Đây là giai đoạn tiền phát triển của mỗi trẻ thơ nói riêng và của thế hệ trẻ thơ nói chung mà nền giáo dục phong kiến Việt Nam tồn tại hàng nghìn năm chưa từng đề cập tới. Bà cũng chính là người đầu tiên nhận ra vai trò quan trọng của người mẹ trong giai đoạn tiền phát triển của trẻ thơ mà không ai có thể thay thế.

Tâm huyết với những phát hiện này bà đã nỗ lực nhiều năm khảo cứu, biên soạn công trình Giáo dục nhi đồng, cuốn sách được coi là giáo khoa đầu tiên tặng các bà mẹ Việt Nam làm công cụ giáo dưỡng con trẻ. Ra đời năm 1942 nhưng đến nay Giáo dục nhi đồng vẫn là cuốn sách hữu ích cho các cơ quan chức năng, các bậc cha mẹ cùng các cô nuôi dạy trẻ trong việc giáo dục nhi đồng. Với vai trò sáng lập Hội nữ công đầu tiên ở Việt Nam, tuy tồn tại không lâu nhưng Nữ công học Hội dưới sự lãnh đạo của Đạm Phương Nữ Sử đã có ảnh hưởng chung và cất tiếng nói riêng, tiếng nói đại diện cho phụ nữ Việt Nam đòi nhân quyền dưới chế độ thực dân, phong kiến.

Với những hoạt động sôi nổi của cả cuộc đời, Đạm Phương Nữ Sử thực sự là nhân vật trí thức tiến bộ và yêu nước trong lịch sử cận đại Việt Nam. Có nhà báo khẳng định: “Đạm Phương đã làm được cái việc như thể “nữ Oa vá trời”; viết báo, lập báo, tạo dựng một tổ chức xã hội làm cơ sở nuôi dưỡng tinh thần đấu tranh cho nữ quyền… song điều đáng chú ý hơn cả trong hàng loạt bài báo mang tính giáo dục phụ nữ, bà luôn nhấn mạnh đến bổn phận, nghĩa vụ, lương tâm và trách nhiệm của con người”./…

Đỗ Hằng