'Đạm Phương Nữ Sử': Nữ kí giả Việt Nam tiên phong đấu tranh về sự tiến bộ của phụ nữ (Phần I)

Cập nhật: 17:32 | 15/10/2018
Đạm Phương Nữ Sử là một phụ nữ xuất thân từ hoàng tộc, một công nương của nhà Nguyễn, với rất nhiều tác phẩm có giá trị, bà không chỉ là gương mặt nổi bật trong lĩnh vực văn chương - báo chí, mà còn giữ vai trò quan trọng trong các hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX.
dam phuong nu su nu ki gia viet nam tien phong dau tranh ve su tien bo cua phu nu phan i
Chân dung bà Đạm Phương nữ sử

Đầu thế kỷ XX, khi nền văn hóa Pháp theo chân các đội quân viễn chinh và các nhà tư sản “khai phá thuộc địa” du nhập vào Việt Nam, vai trò cuả người phụ nữ trong xã hội bắt đầu chuyển động, từng bước có những thay đổi tiến bộ. Từ chốn buồng the, từ nơi cung cấm, từ những công việc nội trợ bếp núc, nhiều phụ nữ đã tìm cách thoát khỏi ngưỡng cửa của nhà mình, vươn ra hòa nhập với xã hội bằng những công việc từ hàng trăm năm trước chỉ có nam giới mới được làm. Trong đó có viết văn, làm báo và hoạt động xã hội.

Người phụ nữ với vai trò mới ngày càng xuất hiện nhiều hơn, thu hút sự chú ý của xã hội đồng thời tiếng nói của họ bắt đầu có trọng lượng. Đại diện cho giới phụ nữ tiến bộ là những tên tuổi: Sương Nguyệt Anh, Sầm Phố, Cao Thị Ngọc Anh, Huỳnh Thị Bảo Hòa, Đạm Phương Nữ Sử… Từ những diễn đàn này, sáng tác của họ đã tạo thành một mảng riêng, để lại dấu ấn khá đậm nét trong bức tranh báo chí, văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Đặc biệt công nương Đạm Phương, một phụ nữ thuộc dòng hoàng tộc, có nhiều đóng góp nổi bật không chỉ trong lĩnh vực văn chương - báo chí, mà còn rất thành công trong các hoạt động xã hội.

Đạm Phương Nữ Sử tên thật là Công Tôn Nữ Đồng Canh, tự Quý Lương, sinh năm Tân Tỵ (1881) tại phủ Tôn Nhơn kinh đô Huế. Thân phụ bà là Nguyễn Miên Triện, hoàng tử thứ 66 của vua Minh Mạng, thụ tước Hoàng Hóa Quận Vương. Tuy sinh ra trong bối cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, cai trị, nhưng do thuộc dòng dõi vua chúa nên Công Tôn Nữ Đồng Canh vẫn có nhiều đặc quyền, đặc lợi. Thời niên thiếu Công Tôn Nữ Đồng Canh được thụ hưởng nền giáo dục truyền thống nghiêm túc của hoàng tộc, nhờ vậy bà giỏi cả Hán văn, Pháp văn, quốc ngữ, cầm, kỳ, thi, họa và giỏi nữ công gia chánh. Những kiến thức phong phú được rèn luyện trong suốt thuở thiếu thời đã chung đúc thành vốn văn hóa vững chắc, sâu rộng, tạo điều kiện cho Công Tôn Nữ Đồng Canh thành công trong sự nghiệp.

Năm 1897 - 16 tuổi, Công Tôn Nữ Đồng Canh lập thân với ông nghè tập ấm Nguyễn Khoa Tùng, hậu duệ thứ 6 của Nguyễn Khoa Chiêm, quê gốc Hải Dương, nay thuộc xã Lê Lợi - huyện An Hải - Hải Phòng, tác giả cuốn Nam triều công nghiệp diễn chí, tiểu thuyết lịch sử đầu tiên ở nước ta. Ông bà sinh hạ được ba người con gái và ba người con trai, tất cả đều được rèn luyện trong nền giáo dục nghiêm cẩn. Ba người con trai của bà lần lượt ngã xuống trong sự nghiệp đấu tranh chống thực dân Pháp giải phóng dân tộc, trong đó có nhà lý luận Mác-xít tiền bối xuất sắc Hải Triều Nguyễn Khoa Văn.

Đạm Phương Nữ Sử có lợi thế từ vốn văn hóa sâu rộng nhờ thông thạo Hán văn, Pháp văn. Bà đọc nhiều, hiểu sâu, biết rộng, sớm tiếp cận tư tưởng tiến bộ của nhân loại, đặc biệt là tư tưởng dân chủ, tự do, bình đẳng, bác ái, nhân quyền của các nhà cách mạng tư sản dân chủ Pháp, Trung Quốc như J.J. Rutxô, X. Ximông, Lương Khải Siêu, Tôn Dật Tiên…, bà còn được tiếp xúc với các bậc chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và các đảng viên cộng sản Phan Đăng Lưu, Nguyễn Chí Diểu… Tri thức và những mối quan hệ đó đó thúc đẩy Đạm Phương Nữ Sử chuyển hóa nhận thức, tự giác đứng vào hàng ngũ những trí thức tiến bộ của thời đại.

Năm 1926 Đạm Phương Nữ Sử sáng lập Nữ công học hội Huế , trực tiếp làm Hội trưởng, tự dự thảo tôn chỉ, mục đích, nội quy, chương trình hoạt động của Hội. Đây là tổ chức phụ nữ phi chính phủ đầu tiên ở nước ta buộc chính quyền thực dân phong kiến thừa nhận. Hội thu hút nhiều hội viên từ ba miền Bắc, Trung, Nam và Lào tham gia sinh hoạt theo định kỳ. Chương trình hoạt động của Hội rất phong phú, cụ thể và thiết thực. Tổ chức dạy chữ cho những hội viên chưa biết chữ, từ a-b-c đến đọc thông viết thạo; tổ chức dạy chuyên đề để nâng cao hiểu biết cho những hội viên đã biết chữ; sau cùng là dạy đại cương về giáo dục phụ nữ, dạy cách nấu ăn, dạy những nghề thông dụng để phát triển thành một nghề kiếm sống. Hội còn cung cấp tri thức và kinh nghiệm tổ chức gia đình, nuôi dạy con cái, đồng thời tạo điều kiện cho chị em làm quen với hoạt động tập thể, tiến tới tham gia công việc xã hội, đã trở thành chỗ dựa cho phong trào nữ học sinh trường Đồng Khánh, trường Quốc học Huế bãi khóa. Các bậc chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng và các trí thức trẻ Đào Duy Anh, Đoàn Nồng, Nguyễn Lân rất nhiệt tình tham gia nhiều hoạt động Hội, đã góp phần vào thành công và nâng cao uy tín của Hội. Xu hướng tiến bộ của Nữ công học hội Huế dưới sự lãnh đạo của Đạm Phương Nữ sử được dư luận, báo chí đánh giá cao và nhiệt tình cổ vũ. Ảnh hưởng của Hội lan truyền khắp cả nước, đã dấy lên phong trào hoạt động xã hội tích cực của phụ nữ ở các vùng Vinh, Thanh Hóa, Hà Nội, Hải Phòng, Hội An, Nha Trang, Sài Gòn, Gia Định, Cần Thơ...

Năm 1929 Đạm Phương bị chính quyền thực dân Pháp bắt giam bởi hoạt động của bà đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới phong trào yêu nước, bởi các con trai bà hoạt động trong các tổ chức cộng sản và yêu nước bị lộ. Hai tháng sau bà được thả nhưng không được tự do hoạt động, và ngày càng bị giám sát chặt chẽ hơn; các con trai bà, Nguyễn Khoa Tú, Nguyễn Khoa Vĩ, Nguyễn Khoa Văn cũng lần lượt ngã xuống trên đường tranh đấu. Sau ngày toàn quốc kháng chiến (19/12/1946), bà tản cư ra Thanh Hóa. Tuổi già sức yếu lại phải chịu những nỗi đau riêng, Đạm Phương Nữ Sử đã tạ thế ngày 10 tháng 12 năm 1947 tại Lạc Lâm, Thanh Hóa, hưởng thọ 66 tuổi.

Sinh thành nơi lầu son gác tía nhưng Công Tôn Nữ Đồng Canh đã trở thành Đạm Phương Nữ Sử - một trong những nữ ký giả Việt Nam đầu tiên, một phụ nữ yêu nước đem cả cuộc đời, văn nghiệp cống hiến cho sự nghiệp độc lập dân tộc và tiến bộ của đất nước. Hiệu quả trong nỗ lực hoạt động xã hội những năm đầu thế kỷ XX cùng với những trang viết của bà, đặc biệt, những công trình giá trị Giáo dục nhi đồng, Phụ nữ dự gia đình, Gia đình giáo dục thường đàm… không chỉ là những đóng góp cho các lĩnh vực Việt ngữ: ngôn ngữ báo chí, văn, thơ, dịch thuật, mà còn là những đóng góp không nhỏ cho phong trào đấu tranh vì sự tiến bộ của phụ nữ.

Trong khoảng 10 năm, từ 1918 đến 1929, Đạm Phương là một trong những phụ nữ nổi tiếng trong các hoạt động xã hội và hoạt động văn học - báo chí. Tổ chức Nữ công học Hội Huế của bà đã hoạt động tích cực và hiệu quả với các chương trình mở rộng hiểu biết, nâng cao nhận thức của phụ nữ. Bà có khoảng gần hai trăm bài báo, tất cả đều viết theo các chuyên đề hướng dẫn phụ nữ cách sinh con, nuôi con, cách tổ chức gia đình… Là người thông thạo Hán văn, Pháp văn, bà đã tiếp thu tinh hoa thế giới rồi sau đó dùng chữ quốc ngữ phổ biến cho phụ nữ trong nước. Nhờ hoạt động và các bài viết của bà, nhiều phụ nữ Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX đã có thể tiếp cận các tri thức mới, tư tưởng mới.

Khác với hầu hết các nữ sĩ xuất hiện trên văn đàn Việt Nam ngày ấy, Đạm Phương đi con đường riêng. Nếu như Sương Nguyệt Anh, Sầm Phố, Cao Thị Ngọc Anh… chủ yếu chỉ làm thơ để bộc bạch nỗi niềm nghĩa nước, tình nhà thì với Đạm Phương, ngoài những bài thơ thấm đượm nhân tình thế thái, bà đã đăng tải trên báo chí những áng văn xuôi sắc sảo bằng tiếng Việt nhằm canh tân đất nước bắt đầu từ sự tiến bộ của phụ nữ.

Năm 1918 Công Tôn Nữ Đồng Canh với bút danh Đạm Phương Nữ Sử chính thức xuất hiện trên các báo, tạp chí ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Bà tham gia viết bài cho các tờ báo lớn, uy tín Nam Phong, Phụ nữ thời đàm, Tiếng dân, Hữu Thanh…; giữ chuyên mục “Lời đàn bà” trên báo Thực nghiệp; trợ bút đắc lực cho báo Trung Bắc tân văn và giữ chuyên mục “Văn đàn bà” của báo từ năm 1919 đến năm 1928.

Với mong muốn dùng báo chí như một công cụ đấu tranh đắc lực cho quyền tự do dân chủ của con người và quyền bình đẳng của phụ nữ Việt Nam, từ năm 1918, Đạm Phương liên tục có bài đăng trên nhiều tờ báo uy tín khắp cả nước. Để mau chóng đạt được mục đích, bà còn vận động thành lập một tờ báo dành riêng cho phụ nữ, và tờ Phụ nữ tùng san đã ra đời tháng 5 năm 1929 ở Huế, góp phần giúp bà tuyên truyền cho phong trào vì sự tiến bộ của phụ nữ và triển khai các hoạt động của Nữ công học Hội. Không chỉ là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên viết báo bằng chữ quốc ngữ, Đạm Phương còn đóng góp đáng kể vào quá trình xây dựng nền quốc văn bằng cách liên tục cho xuất hiện trên báo chí thời đó nhiều bài viết thuộc nhiều thể loại văn chương khác nhau như khảo cứu, nghị luận, ký… Nhưng, vượt lên trên tất cả những đóng góp có ý nghĩa ấy trong tư cách một nhà báo, nhà văn, nhà giáo dục là tư tưởng dân chủ tiến bộ được chuyển tải rõ ràng, sắc sảo, đầy thuyết phục trong tất cả các bài viết mà bà dày công chăm chút.

Đạm Phương cảm nhận hết sức sâu sắc ý nghĩa của tự do - dân chủ - bình đẳng đối với sự phát triển năng lực và hạnh phúc riêng tư của người phụ nữ. Tuyên bố nữ quyền của Đạm Phương được tóm tắt thật đầy đủ, khúc triết:

+ Muốn bình quyền, bình đẳng với nam giới, trước hết người phụ nữ phải có những khả năng cần thiết nhất, đó là đức hạnh và tài năng.

+ Đức hạnh và tài năng trước hết phải được giáo dục và rèn luyện trong gia đình từ tuổi ấu thơ đến tuổi trưởng thành.

+ Song song với giáo dục gia đình, người phụ nữ phải được tiếp nhận từ nhà trường một nền học vấn cơ bản tối thiểu là học hết bậc tiểu học (thời Pháp thuộc).

+ Với vốn tri thức cơ bản đó, người phụ nữ phải học lấy một nghề để có thể sống tự lập và góp phần phát triển kinh tế, không phụ thuộc, ỷ lại vào nam giới, không ăn bám chồng con.

Tư tưởng tiến bộ của bà đến nay vẫn nguyên giá trị và mang tính thời sự nóng hổi.

Đỗ Hằng