Cổ phần hóa Tập đoàn Cao su Việt Nam: Bài toán khó về định giá 475.000hecta đất

Cập nhật: 17:15 | 04/01/2018
Việc cổ phần hoá Tập đoàn Cao su Việt Nam theo nhận định từ các chuyên gia sẽ rất phức tạp. Vấn đề phức tạp nhất, khó nhất trong cổ phần hóa Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam là định giá đất.  

Vừa qua, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đã phê duyệt Phương án cổ phần hóa và chuyển thành công ty cổ phần Công ty mẹ – Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam với hình thức cổ phần hóa kết hợp bán phần vốn nhà nước hiện có và phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ.

Thủ tướng Chính phủ đã ủy quyền Bộ trưởng Bộ NN-PTNT phê duyệt tiêu chí, quyết định và chịu trách nhiệm lựa chọn nhà đầu tư chiến lược trong nước sau khi bán đấu giá cổ phần lần đầu ra công chúng, không bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược nước ngoài; bảo đảm nhà đầu tư cam kết gắn bó lợi ích lâu dài với doanh nghiệp sau cổ phần hóa.

Trong đó bảo đảm điều kiện không chuyển nhượng cổ phần trong thời gian 5 năm và quy định rõ quyền ưu tiên của nhà nước được mua cổ phần nếu nhà đầu tư chiến lược bán cổ phần sau 5 năm cổ phần hóa.

co phan hoa tap doan cao su viet nam bai toan kho ve dinh gia 475000hecta dat
Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG).Ảnh: Báo Thanh Niên.

Theo như phương án dự kiến cổ phần hóa Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG), vốn điều lệ của Tập đoàn sau cổ phần hóa được xác định là 40 nghìn tỷ đồng, ứng với 4 tỷ cổ phần theo mệnh giá 10.000 đồng/cổ phần... Hậu cổ phần hóa, Nhà nước vẫn sở hữu 75% vốn điều lệ, ứng với 3 tỷ cổ phần; VRG sẽ bán đấu giá hơn 475 triệu cổ phần ra công chúng, tương đương tỷ lệ 11,88% vốn điều lệ và bán cho nhà đầu tư chiến lược một tỷ lệ tương tự; Phần nhỏ còn lại sẽ bán cho người lao động và công đoàn.

VRG cho biết, mục tiêu kế hoạch thời hậu cổ phần hóa của Tập đoàn là tốc độ tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận trung bình 15%/năm với tổng doanh thu đạt trên 40.000 tỷ đồng, lợi nhuận 8.953 tỷ đồng vào năm 2020. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu đạt bình quân 21%. Lợi nhuận trên vốn điều lệ bình quân 19 %/năm.

Hiện tại, dù VRG đang nắm trong tay khối sản lớn với quỹ đất lên đến 475.000 ha và đưa ra một viễn cảnh kinh doanh khá lạc quan thời hậu cổ phần hóa. Song, VRG hiện cũng gây khó khăn cho giới phân tích trong vấn đề xác định giá trị hợp lý để làm cơ sở đưa ra mức giá đấu. Bởi VRG không chỉ có quy mô quá lớn, mô hình tổ chức của Tập đoàn này cũng khá phức tạp.

Theo báo cáo cổ phần hóa, có đến 123 đơn vị thành viên, trong đó có 75 doanh nghiệp cấp II và 48 doanh nghiệp cấp III tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa. Trong đó, đáng chú ý là rất nhiều đơn vị thành viên có quy mô rất lớn nhưng chưa tiến hành cổ phần hóa như Cao su Đồng Nai, Cao su Dầu Tiếng hay Phú Riềng,… chưa tiến hành cổ phần hóa. Điều này theo một Giám đốc phân tích của một CTCK là rất khó để thu thập đủ số liệu tin cậy, việc định giá là rất phức tạp mất rất nhiều thời gian nhưng chưa chắc đủ cơ sở để đưa ra kết luận.

Trong khi đó, báo cáo tài chính của VRG hiện cũng được đánh giá chưa tương xứng với vị thế của VRG. Theo đó, việc VRG sử dụng đơn vị định kiểm toán nằm trong nhóm Big4 là điều đáng lý nên thực hiện thay vì các công ty kiểm toán có quy mô nhỏ hơn khó có đủ nguồn lực để có thể đảm trách việc kiểm toán VRG.

Cho đến nay, VRG vẫn đang còn khoản đầu tư ngoài ngành tại 17 doanh nghiệp tại các lĩnh vực như thủy điện, du lịch, bất động sản, xi măng, quỹ đầu tư chứng khoán có giá trị lên đến hơn 1.656 tỷ đồng. Theo yêu cầu của Chính phủ, VRG chỉ được tập trung phát triển các lĩnh vực chính là trồng và khai thác mủ cao su; công nghiệp cao su; chế biến gỗ cao su; phát triển khu công nghiệp trên đất cao su và nông nghiệp công nghệ cao. Do vậy Công ty mẹ - Tập đoàn sẽ thoái toàn bộ vốn góp trực tiếp không thuộc ngành nghề chính; nguồn thu sẽ tái đầu tư góp vốn vào các công ty hoạt động phù hợp với ngành sản xuất kinh doanh chính của VRG.

Trước đó, trong quá trình xác định giá trị doanh nghiệp, VRG đã phải loại khoản nợ khó đòi 644,7 tỷ đồng liên quan đến vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra tại Công ty TNHH một thành viên Tài chính cao su Việt Nam – công ty con 100% vốn của VRG khỏi giá trị doanh nghiệp khi xác định giá. Đây cũng là một trường hợp cho thấy nhược điểm do quy mô quá lớn và việc sai sót nhỏ có thể gây thất thoát tài sản của Tập đoàn.

Về vấn đề này, theo PGS.TS Nguyễn Văn Nam, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại (Bộ Công thương), việc cổ phần hóa Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam khác với việc cổ phần hóa Tổng Công ty Bia-Rượu-Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco). Việc không bán cổ phần Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam cho nhà đầu tư chiến lược nước ngoài chủ yếu xuất phát từ yếu tố đất đai.

Cụ thể, nếu Sabeco là lĩnh vực công nghiệp chế biến thì đây là lĩnh vực sản xuất liên quan đến ngành nông nghiệp nói chung và đất nông nghiệp nói riêng. Nếu rao bán cổ phần của Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam cho nhà đầu tư nước ngoài tức là giao đất cho họ, mà đất trồng cao su là đất giao dài hạn. Trong khi đó, đối với doanh nghiệp trong nước, việc xử lý vấn đề này không đáng ngại.

"Luật của Việt Nam Nam chưa thể có chuyện cấp đất cho nước ngoài một cách vô thời hạn. Khi nhà đầu tư nước ngoài vào mua cổ phần mà Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam có bao nhiêu nông trường cao su, trang trại cao su, lúc đó giải quyết vấn đề sở hữu đất cho họ thế nào? Xử lý trong nông nghiệp nông nghiệp phải khác với công nghiệp chế biến.

co phan hoa tap doan cao su viet nam bai toan kho ve dinh gia 475000hecta dat
Tập đoàn Cao su Việt Nam đang nắm trong tay khối sản lớn với quỹ đất lên đến 475.000 ha. (Ảnh minh hoạ)

Các nước khác đơn giản hơn Việt Nam vì thị trường đã phát triển, mà thị trường qua cạnh tranh hình thành giá rõ. Việt Nam đang là nền kinh tế chuyển đổi, có nhiều lĩnh vực Việt Nam chưa có thị trường, trong đó có đất đai.

Ở Việt Nam chưa có quyền sở hữu đất đai mà mới chỉ có quyền sử dụng, mà quyền sử dụng này đối với cá nhân là vô thời hạn, có thể thừa kế, cho con cho cháu hay chuyển nhượng, nhưng với người nước ngoài không như thế được, họ chỉ có quyền sử dụng mà không thể như người Việt Nam, nó phức tạp hơn", PGS.TS Nguyễn Văn Nam phân tích.

Vì lẽ đó, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại nhấn mạnh, khi cổ phần hóa Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam, việc định giá rất khó. Bởi Việt Nam chưa có thị trường đất đai nên cuối cùng phải nhờ kế toán, kiểm toán, thẩm định giá, tài chính, ngân hàng ngồi bàn với nhau ước tính một giá nào đó, giá đó mang tính chủ quan nhiều hơn.

Bên cạnh đó, năng suất trong nông nghiệp thay đổi rất nhanh, nay có thể lẹt đẹt nhưng khi đưa công nghệ mới vào thì vài ba năm sau sẽ lên rất cao, cho nên rất khó định giá.

PGS.TS Nguyễn Văn Nam lưu ý, việc cổ phần hóa Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam lần này là cổ phần hóa công ty mẹ, chứ không phải cổ phần hóa các đơn vị thành viên độc lập khác. Cho nên không thể tính toàn bộ hơn 100 đơn vị thành viên của tập đoàn, nếu chỉ có những đơn vị trực tiếp hạch toán báo sổ, còn đơn vị hạch toán độc lập thì làm riêng.

Trở lại với việc tìm nhà đầu tư chiến lược trong nước cho Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam, theo vị chuyên gia, việc này vừa khó vừa dễ. Khó ở chỗ để có nhà đầu tư lớn ôm được một lượng lớn cổ phiếu chắc chắn không hề dễ dàng. Tuy nhiên, hiện nay bắt đầu có những đại gia kinh doanh ngành khác đầu tư vào nông nghiệp, nên hy vọng họ có thể tính toán đầu tư vào trồng và chế biến cao su.

"Vấn đề là chính sách quản lý của Việt Nam có phù hợp hay không. Trước nay, chính sách quản lý của Việt Nam còn nhấp nhô, tùy tiện và nhiều cản trở. Nhà đầu tư không hiểu nếu họ đầu tư vào thì sau này chính sách có mở rộng, thông thoáng không", PGS.TS Nguyễn Văn Nam nhấn mạnh.

Thanh Hoa (Tổng hợp)